Kể từ thuở mở mang trời đất,
Nguồn nhơn sanh tánh chất thật thà.
Vì chưng trần tục đắm sa,
Một ngày một nhiễm một xa cội nguồn.
Người thì mảng pha tuông biển sắc,
Kẻ tìm nơi đổ bác chen vào.
Đã ham rừng thịt rượu ao,
Lại quen tánh khí bào hao lẫy lừng.
Thế mà phải tinh thần suy kém,
Uổng ngôi xưa một điểm linh quang.
Ăn năn ví chẳng sớm toan,
Mối dây oan nghiệt buộc ràng bên chân.
***
Rượu là giống trăm phần ác độc,
Làm cho người hình vóc héo hon.
Kể ra hại chất bằng non,
Đốt tiêu phế phủ, soi mòn tâm can.
Khi quá chén tào khang chẳng kể,
Lúc lỡ say nào nể xóm giềng.
Mẹ cha thảm, vợ con phiền,
Nhuốc nhơ danh giá, đảo điên đạo nhà.
Ví biết trọng tề gia chi bửu,
Đừng lân la quán rượu lầu cao.
Vui mê bầu ngọc chén đào,
Đã suy khí lực, lại hao tinh thần.
***
Chừa mấy chốn lầu Tần, quán Sở,
Thói trăng huê dầu lỡ đắm sa.
Ăn năn sớm tháo chân ra,
Khỏi vòng lục dục mới là người khôn.
Con sóng sắc dập dồn biển ái,
Mảnh hồng nhan là cái gươm đao.
Xưa nay mấy mặt anh hào,
Giang san sự nghiệp chôn vào tình si.
Trai xấu tiếng cũng vì sắc hại,
Gái mất trinh cũng tại gian dâm.
Đảo điên đức bốn, thường năm,
Phong thương tục bại, tội dâm muôn đời.
***
Trường đổ bác là nơi gieo nạn,
Hại nhiều tai bại sản khuynh gia.
Chung sòng nào kể trẻ già,
Xô bồ quí tiện cũng là đồng vai.
Khi vận đỏ hiếm tay niềm nở,
Thói a dua tiếng bợ lời tưng.
Rủi thua vương lấy nợ nần,
Người xa gièm siểm, kẻ gần khinh khi.
Cơn túng ngặt kể chi tội phước,
Lòng rắp ranh tìm chước gian tham.
Việc chi hễ lợi thì làm,
Thân danh là trọng cũng đam chôn vùi.
***
Biết nhẫn nhịn tính xuôi muôn sự,
Mặc tình ai làm dữ nấy lo.
Lửa lòng nóng quá lửa lò,
Biết khôn dằn xuống khỏi lo tụng đình.
Giận một lúc mà sinh hại cả,
Dầu ăn năn cũng đã muộn rồi.
Chi bằng giả điếc làm đui,
Thị phi ừ hử cho xuôi mọi bề.
Nôm na một bổn giác mê.
CHUNG
CHÂU THÂN GIẢI
Tác giả: NGUYỄN TRUNG HẬU
Nhà in HOÀNG HẢI 152 Douaumont SAIGON – 1955
Thánh Thất New South Wales – Australia
Tái ấn hành năm Nhâm Ngọ 2002
Tài liệu biếu không.