Chơn Lý

I. ÐẠI ÐẠO


Vạn vật trong Càn Khôn, Thế Giái đều do một căn bổn, một nguyên lý mà ra (la Cause primordiale). Cái nguyên lý ấy là khí Hư Vô. Dầu cho Trời Ðất cũng không ngoài cái công lệ ấy. Thái Cực là ngôi của Ðức Chí Tôn (Ðấng Tạo Hóa) mà Thái Cực cũng do khí Vô Cực (khí Hư Vô) mà ra. Khí Vô Cực lại do chỗ động tịnh (manifestation) mà biến thành Thái Cực.

Nguyên hồi khí Hồng Mông (le Chaos) chưa phân phán, là lúc sơ khởi khí Vô Cực, ở không gian chỉ mờ mờ mịt mịt. Thoạt nhiên có hai lằn nguyên lực không biết gốc ở đâu mà ra, nên gọi là “Hư Vô chi khí”: một thứ tánh cang gọi là Dương, một thứ tánh nhu gọi là Âm. Hai nguyên lực ấy xung đột lẫn nhau nổ ra một khối lửa lớn gọi là Thái Cực (ấy là ngôi của Ðức Chí Tôn). Thái Cực động mà sanh lại khí Dương, động Cực rồi lại tịnh mà sanh khí Âm, tịnh Cực rồi lại động, động Cực rồi lại tịnh, cứ một động, một tịnh như vậy mà phân Lưỡng Nghi, gài Tứ Tượng, lập thành Bát Quái, rồi Bát Quái mới vận chuyển theo mạng lịnh của Ðức Chí Tôn. Lần lần khối lửa Bát Quái nứt văng ra mà thành muôn muôn vàn vàn ngôi tinh đẩu, gọi là biến hóa vô cùng. Khi Bát Quái vận chuyển thì không khí thảy đều chuyển động mà xoay quanh theo ngôi Thái Cực, rồi gom thành một khối tròn gọi là quả Càn Khôn (Le Kosmos). Cái sức không khí vận chuyển càng lâu càng yếu bớt, thì lại càng dang ra xa, thì quả Càn Khôn lại càng lớn rộng ra thêm. Lần lần lớp không khí bao ngoài vỏ quả Càn Khôn đông đặc lại mà trở nên dày hơn khối không khí ở trong.

Sau khi phân chất ra mà tác thành Càn Khôn, Thế Giái, khối Thái Cực vì hết phần vật chất mà trở nên nhẹ nhàng hơn không khí, đoạn mới vượt lên khỏi vòng Càn Khôn mà an ngôi nơi chốn tuyệt đối gọi là Niết Bàn hay là Bạch Ngọc Kinh.(*1)

Tuy vân, Ðức Chí Tôn chuyển Âm Dương nhị khí mà tác thành Càn Khôn, Thế Giái, song Ngài cũng không thoát khỏi ra vòng Âm Dương. Âm Dương tức gọi là Ðạo (Nhứt Âm, nhứt Dương chi vị Ðạo).

Vả chăng chỗ bổn nguyên của Âm Dương là khí Hư Vô, cũng gọi là khí Tiên Thiên, nghĩa là có trước Trời Ðất (tiếng Pháp gọi La Substance précosmique, tiếng Phạn gọi là Mulaprakriti). Cho nên sách gọi Ðạo là “Nhứt khí Hư Vô” có trước Trời Ðất. Ðạo đã là khí Hư Vô, có trước Trời Ðất, thì Ðạo vẫn tự nhiên mà có (la Cause incréée), không tiêu, không diệt, không trước, không sau, xem chẳng thấy, lóng chẳng nghe, rờ chẳng đụng, gọi lớn thì chở che muôn vật, bao hàm cả Trời Ðất, đâu đâu cũng có, vô lượng vô biên, gọi nhỏ thì từ trong hột cát, cọng rau, Ðạo vẫn cũng dẫy đầy chan chứa. Ðạo tức là cơ mầu nhiệm sanh ra vạn vật, mà vạn loại, nhứt là nhơn loại, cũng nhờ cơ mầu nhiệm ấy mà trở về chỗ bổn căn, tức là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập thánh vậy.

Kinh Dịch có câu: “Lập Ðạo Trời là Âm Dương, lập Ðạo Ðất là Cang Nhu, lập Ðạo Người là Nhơn Nghĩa”. Ðạo Trời là Thiên Ðạo, Ðạo Ðất là Thế Ðạo, Ðạo Người là Nhơn Ðạo. Làm người ở đời cần phải giữ tròn ba Ðạo ấy mới đặng hoàn toàn nhơn cách.

***

Ðạo tuy vô hình, song phải mượn chỗ hữu hình mà thể đạo, vì phải có cái hữu hình mới rõ đặng cái vô hình. Tỉ như một người kia muốn tỏ bày ý kiến tư tưởng mình cho một người khác ở xa, thì phải viết chữ ra trên giấy mà gởi cho người ấy xem. Văn tự vẫn là vật hữu hình dùng để tỏ ra cái ý kiến, tư tưởng vô hình vậy. Cho nên đạo nào cũng phải dùng chỗ hữu hình để bảo tồn trật tự mà truyền đạo đời nầy qua đời khác. Nhưng sợ lòng người, hoặc thái quá, hoặc bất cập, không giữ đạo chánh đặng lâu dài, nên phải lập ra luật lệ, lễ phép để bó buộc lòng người noi theo đó mà tu, mà giữ đạo cho tròn, ấy gọi là Giáo.

Các Giáo như đạo Phật, đạo Tiên, đạo Thánh, đạo Do Thái, đạo Hồi Hồi vân vân, đều chia cái giáo lý (doctrine) ra làm hai bộ phận: một phần hữu hình minh minh, bạch bạch để dạy bực hạ thừa, một phần vô hình huyền huyền, bí bí để mật truyền cho bực thượng thừa. Vì nhiều kẻ vô đạo không thế nào rõ thấu chỗ huyền bí ấy, nên hễ thấy ai nhiễm thâm mùi đạo mà phế hết việc đời, thì lại chê là người “mê tín”. Nếu những kẻ ấy ra công tìm kiếm đạo lý sâu xa mà học hỏi, thì ắt hiểu rằng các tôn giáo đều một gốc mà ra, đều tôn trọng một Chơn lý (la Vérité-Une) đều giống nhau ở chỗ vô hình, chỉ khác nhau bởi chỗ hữu hình mà thôi. Cái hữu hình (*2) ấy sở dĩ khác nhau là vì các tôn giáo phải tùy theo phong hóa và phương sanh hoạt của người nước mình, chớ tựu trung cũng giữ đồng một chũ nghĩa rất cao thượng là làm lành, lánh dữ, hàm dưỡng tinh thần để cầu cho linh hồn siêu việt ra vòng tử sanh luân chuyển.

***

Ðạo là vô vi, Ðời là hữu hình. Vô vi và hữu hình buộc phải hiệp nhau làm một mới đặng. Có Ðạo tức có Ðời, có Ðời tức có Ðạo.

Như một cây đèn: luôn về ngọn lửa của nó là vật hữu hình, tỉ là Ðời. Còn cái ánh sáng giọi ra là vô vi, tỉ là Ðạo. Người ta làm cây đèn chớ ai làm ánh sáng (vô vi), mà hễ thắp đèn thì tự nhiên có ánh sáng.

Như một cái chén: vòng gốm ngoài là vật hữu hình, tỉ là Ðời. Còn cái lòng trống ở trong là vô vi, tỉ là Ðạo. Người ta làm cái chén chớ không làm cái lòng trống ở giữa (vô vi), mà hễ làm cái chén thì cái lòng trống ở giữa tự nhiên phải có.

Như một cái cửa: Luôn vừa khuôn vừa cánh cửa là vật hữu hình, tỉ là Ðời. Còn cái khoảng trống để vô ra là vô vi, tỉ là Ðạo. Người ta làm cái cửa chớ không làm cái khoảng trống ấy (vô vi), mà hễ làm cái cửa, thì cái khoảng trống ấy tự nhiên phải có.

Như một cái bánh xe: luôn về vành tròn và cái hoa cửi là vật hữu hình, tỉ là Ðời. Còn cái lỗ để tra cốt vào cho bánh xe quây là vô vi, tỉ là Ðạo. Người ta làm cái bánh xe chớ không làm cái lỗ cốt (vô vi), mà hễ làm cái bánh xe, thì cái lỗ cốt ấy tự nhiên phải có.

Cây đèn, cái chén, bánh xe, cái cửa là vật hữu vi. Người ta sở dĩ chế tạo mấy vật ấy là để lợi dụng cái chỗ vô vi của nó mà thôi. Ấy vậy Ðạo quý trọng cho Ðời là dường nào? Người không Ðạo chẳng khác nào có đèn mà không biết thắp cho ra ánh sáng, có chén mà không biết chỗ đựng nước, có cửa mà không chừa khoảng trống thì làm sao mà ra vô được, có bánh xe mà không chừa lỗ cốt thì làm sao bánh xe quây được?

***

Ðã biết rằng Ðạo nào cũng tôn trọng ông Tổ Giáo mình trên hết, nhưng há nên vì đó mà xem thường mấy vị Giáo chủ Ðạo khác hay sao? Vả chăng các vị Giáo chủ, bất câu là của Ðạo nào thảy đều lãnh một thiên chức giáo hóa nhơn sanh từ đời tối cổ đến bây giờ, song những giáo lý của các Ngài thuyết minh ra cần phải tùy thời mà truyền bá. Gặp đời ly loạn, cần phải dạy dân cho biết đạo nhơn hòa, gặp buổi nghịch luân, phải dạy cho biết cang tam, thường ngũ. Ðến nay là đời khoa học, lại cần phải do theo lối khoa học thiệt nghiệm mà thuyết minh đạo lý. Cho hay các lý thuyết, dẫu rằng có chỗ xung đột khắc lẫn nhau, song cả thảy cũng đều giúp đời để tìm một Chơn lý. Vì một Chơn lý nên các Tôn giáo đều công nhận và tôn sùng có một đấng cao nghiêm tuyệt đối, toàn tri, toàn năng, cầm quyền thiêng liêng tạo hóa ra muôn loại.

Vả lại, ngày nay chúng ta được thông hiểu ít nhiều đạo lý, thì chúng ta phải biết ơn và tôn trọng các Ðấng Giáo chủ cùng các bậc Cao sư đời trước, vô luận là ở về đạo nào, vì các đấng tiền bối ấy đã ra công phát gai vạch lối cho chúng ta thấy đường ngay nẻo sáng mà đi. Các tôn giáo sau nầy sẽ dung hòa đặng là nhờ hai lẽ vừa kể trên đây vậy.

Muốn rõ hai lẽ ấy đích xác hơn, xin xem qua hai bài luận tiếp: Một bài luận về “Ðạo thờ Trời”, một bài luận về “Tam Giáo hiệp nhứt”.

(*1) Sách có câu: “Khí chi khinh thanh, thượng phù giả vi Thiên, khí chi trọng trược, hạ ngưng giả chi Ðịa”. Nghĩa là: “Khí thanh nhẹ nhàng bay lên làm cõi Trời, khí trược nặng nề đặc lại làm cõi Ðất”. Khí trọng trược tức là phần vật chất (matière) của khối Thái Cực đặc lại mà biến thành 72 địa cầu, 3000 thế giái và muôn vàn ngôi tinh đẩu trong Càn Khôn. Nghĩa lý chữ đất là vậy đó, chớ không phải chỉ riêng có một quả đất cỏn con của chúng ta ở mà thôi đâu, như nhiều người hiểu lầm.
Khí khinh thanh là phần tinh ba (essence) của khối Thái Cực vượt lên khỏi vòng Càn Khôn mà lập ra cõi Trời, gọi là: “Thượng phù giả vi Thiên”.
(*2) Cách thức thờ phượng và lễ nghi tế tự.



Viết bình luận...