Luận Đạo Vấn Đáp

Chương Thứ IV: Vấn đáp về việc cúng kiếng phượng thờ


VẤN: Vào Đạo rồi, mỗi ngày buộc phải cúng Tứ Thời, buộc chi nhiều vậy, e mất hết ngày giờ đi chăng?

ĐÁP: Cúng Tứ Thời là cách tập mình chịu cực lần lần vì tu là khổ hạnh trăm bề, mà muốn chịu nỗi khổ hạnh, trước phải tập lần. Vả lại, cúng kiếng có ích cho mình chớ chẳng ích chi cho Thượng Đế. Mỗi ngày có cúng, Đạo tâm mới nở nang, tứ chi vận chuyển, tinh thần cảm hóa, nếu bỏ qua việc cúng kiếng, chi cho khỏi Đạo tâm mình một ngày một xao lãng, sự kỉnh thành của mình một ngày một phui pha mà ra điều thất lễ.

VẤN: Nếu Đạo tâm mình mạnh, thì lo gì xao lãng?

ĐÁP: Đó là phần ít, sợ là sợ cho kẻ mới nhập môn kìa, chớ kẻ có đạo tâm vững vàng, dầu khổ hạnh bao nhiêu cũng không ngã lòng nản chí, nói chung mà nghe, nếu phải hy sanh về Đạo cũng chẳng chối từ.

VẤN: Tại sao vẽ con Mắt mà thờ Thượng Đế?

ĐÁP: Thờ “Thiên Nhãn” bởi nhiều cớ:

Thờ “Thiên Nhãn” mỗi ngày ra vô đều thấy, bụng tính điều chi sai quấy, dường như có “Thiên Nhãn” ấy ngó chừng mà dặn rằng: “Thầy hằng ở bên con mà để mắt dòm con, con chớ toan điều quấy”. Ấy là một chước rất hay để cho mình giồi lòng, trau hạnh.

Thượng Đế là một khối linh quang vô cùng vô tận bao trùm cả Càn Khôn Thế Giái, nơi đâu cũng có Ngài, mà nhứt là trong tâm ta, mà nhãn lại chủ tâm, cho nên thờ con mắt là thờ Ngài vậy. Ngài vẫn có dạy rằng: “Nhãn thị chủ tâm, Lưỡng quang chủ tể, Quang thị thần, Thần thị Thiên, Thiên giả ngã dã”.

Từ khi Đạo bế, tu vẫn hữu công mà không đắc quả. Nhiều ông có công luyện Đạo, chỉ biết luyện Tinh hóa Khí mà thôi, còn đem Khí hiệp Thần thì không làm đặng. Vì Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm, mà Thần thì cư tại nhãn, cho nên thờ Thiên Nhãn là đem Thần hiệp cùng Tinh Khí cho đủ Tam Bửu là cơ mầu nhiệm siêu Phàm nhập Thánh.

VẤN: Vậy sao không thờ đủ hai con mắt?

ĐÁP: Việc chi cũng do một mà ra rồi cũng trở về Một (Tout part de l’Unité et retourne à l’Unité). Số Một là số chánh của Thượng Đế, vì vậy nên phải thờ một con Mắt mà thôi. Ấy cũng là cơ mầu nhiệm trong phép luyện Thần. Anh là người ngoại Đạo, tôi không phép giải hết cho anh rõ, chỉ luận sơ ít tiếng mà thôi. Khi cúng, muốn luyện Thần, mình phải chăm chỉ ngó vào Thiên Nhãn, con mắt mình đừng cho xao xuyến và nháy nhó, giữ được như vậy ít nữa cho tàn một nhang thì tâm bình, thần định. Nếu thờ hai con Mắt, phần nào ngó con mắt bên hữu, phần nào ngó con mắt bên tả, thì thế nào cho thần định đặng?

VẤN: Sao lại lập vị Thái Bạch, Quan Âm, cùng Quan Thánh chung với Thượng Đế. Tôi e trái đạo quân thần đi chăng? Vì có câu: “Quân Thần bất đồng tịch”.

ĐÁP: Trong buổi Tam Kỳ Phổ Độ nầy, Thái Bạch thay mặt cho Đạo Tiên, Quan Âm thay mặt cho Đạo Thích, Quan Thánh thay mặt cho Đạo Nho mà phổ độ chúng sanh để chuyển Tam Giáo qui nguyên phục nhứt. Nên phải lập vị mà thờ, gọi là Tam Trấn Oai Nghiêm. Ấy là phép thờ phượng theo Tiểu đàn nơi nhà của mỗi Tín đồ, còn nơi Thánh Thất lớn thì thờ đủ Tam Giáo là: Thích Ca, Lão Tử, Khổng Thánh. Nếu đem câu: “Quân Thần bất đồng tịch” ra đây mà nói thì rất sai lầm. Quân Thần bất đồng tịch là gì? Là không ngồi chung một chiếu kìa. Chớ theo phép thờ phượng thì đâu đó đều có trật tự, oai nghiêm. Lập vị Thượng Đế thân trên, Tam Trấn phía dưới, sao cho là đồng tịch?

VẤN: Mình có phép thờ vì Tiên Phật nào khác không?

ĐÁP: Tam Trấn hay về việc Tam Kỳ Phổ Độ thì buộc mỗi Tín đồ phải lập vị. Ngoài ra muốn thờ thêm vì Tiên Phật nào tự ý, song phải thờ chánh bực Thần, Thánh, Tiên, Phật, chớ chẳng nên thờ phượng Tà Thần, Tinh Quái như là Ông Tướng, Cậu Trạng, Cô Hai, Cô Ba vân vân… Tôi cũng nên giải luôn cho anh biết rằng về việc ông bà đã quá vãng rồi, thì cũng phượng thờ theo tục lệ xưa nay, không điều chi canh cải, song phải nhường chỗ xứng đáng hơn hết mà lập vị Thượng Đế cùng Tam Trấn, ấy là lẽ cố nhiên, vì ông bà cũng phải kính thờ Trời Phật.

VẤN: Cúng kiếng phải tốn kém nhiều, như nghèo quá thì làm sao?

ĐÁP: Tôi đã nói rằng quí không là tại lòng mình, kẻ thành tâm, dầu một nhánh cây, một chung nước lạnh trong sạch cũng đủ cho Trời, Phật chứng lòng. Kính thành Trời, Phật mà không biết lấy chi tỏ ra bề ngoài, nên mới dùng sự cúng kiếng. Trời, Phật có chứng là chứng tấc lòng thành, chớ không vì lễ mễ. Sách có câu: “Thiên Địa chí công, Thần minh ám sát, bất vị tế hưởng nhi giáng phước, bất vị thất lễ nhi giáng họa”. Tôi lại nhớ Thượng Đế có giáng cơ cho một bài như vầy:

“Bạch Ngọc từ xưa đã ngự rồi,
Không cần hạ giái vọng cao ngôi.
Sang bần trối mặc, tâm là quí,
Tâm ấy tòa sen của Lão ngồi”.

Xem đó thì biết sự thành kỉnh là quí nơi lòng chớ không quí nơi cúng kiếng.

VẤN: Vậy thì có lòng thành là đủ, cần chi phải cúng kiếng?

ĐÁP: Anh thật hỏi dông dài quá, tôi đã nói rằng sự cúng kiếng là dấu kỉnh thành tỏ ra bề ngoài, không thể làm thì thôi, còn làm được cũng chớ khá bỏ qua. Ví dụ: Kỉnh thành cha mẹ là bề trong, còn cách cư xử đối với người thể nào cho ra dấu thành kỉnh là bề ngoài. Anh kỉnh thờ cha mẹ mà anh không trình thưa, dậm dạ, hỏi ngủ, hầu ăn, quạt nồng ấp lạnh, ai có hỏi thì anh nói rằng có lòng thành kỉnh thì đủ. Thế thì đủ chưa?

VẤN: Tôi lại từng thấy một hai đàn mỗi lần đọc kinh, bày ra đờn địch rộn ràng chi vậy?

ĐÁP: Lễ nhạc là nền nếp nhà Nho từ xưa đến nay, dùng lễ nhạc là duy trì phong tục nước nhà vậy. Vả lại giọng đờn, tiếng quyển dùng để đưa hơi, và nhắc nhịp cho kẻ tụng kinh, như nhà Thiền xưa nay đánh chuông, gõ mõ vậy.

VẤN: Giữa Thiên Bàn chong một ngọn đèn luôn luôn cả đêm cả ngày chi vậy?

ĐÁP: Đó là “Thái Cực Đăng”. Trước khi mở mang Trời Đất, khí âm dương đụng nhau hóa ra một khối lửa gọi là Thái Cực, tức là Thượng Đế, đèn Thái Cực chỉ về khối lửa ấy.

VẤN: Đốt hai cây đèn phía ngoài là ý gì?

ĐÁP: Ấy là Lưỡng Nghi quang.

VẤN: Tại sao phải cúng rượu, trà, hoa quả?

ĐÁP: Cúng năm sắc trái cây gọi là Ngũ hành, tuy vậy chớ cũng có một đôi người vì thiếu kém cũng không đủ năm sắc trái cây, ấy cũng nên châm chế. Bông chỉ về Tinh, rượu chỉ về Khí, trà chỉ về Thần. Tinh, Khí, Thần là Tam Bửu của con người vậy.

VẤN: Mỗi lần cúng đốt chi tới năm cây nhang?

ĐÁP: Đốt nhang để tẩy trược cho không khí. Ba cây đốt trong gọi là án Tam Tài (Thiên, Địa, Nhơn), hai cây cắm ngoài cho đủ năm cây, gọi là tượng Ngũ Khí. Năm cây hương ấy hiệp lại với Ngũ hương trong mình mình là:

Giới Hương nghĩa là phủi sạch việc trần thì trong mình mới thơm.

Định Hương nghĩa là định tâm, định thần được thì trong mình mới thơm.

Trí Huệ Hương nghĩa là phải phát huệ thì trong mình mới thơm.

Tri Kiến Hương nghĩa là phải biết mình, thấy mình thì trong mình mới thơm.

Giải Thoát Hương nghĩa là luyện đặng dương thần xuất nhập thì trong mình mới thơm.

VẤN: Mỗi lần lạy sao không chấp tay như thuở nay vậy, lại bày ra chi cho khác kiểu là tay mặt úp ngoài tay trái, rồi ôm tròn nhau vậy?

ĐÁP: Mỗi việc chi trong sự cúng kiếng phượng thờ đều có nghĩa lý cả, tại mình không kiếm hỏi cho hiểu, rồi cho người bày đặt. Vậy xin giải ra đây cho anh rõ:

Nay Đạo đã hoằng khai thì như bông sen đã nở, rồi sanh ra trái, gọi là kết quả, ấy là hai tay ôm tròn lại như trái cây vậy. Mà kết quả rồi không phép hưởng riêng một mình, phải gieo ra cho chúng sanh chung hưởng, gọi là Phổ độ. Vì vậy mà khi cúi lạy phải sè hai bàn tay ra như gieo hột vậy. Lại nữa: Cách lạy ấy cũng do theo nghĩa lý của cuộc tạo Thiên lập Địa. Tay mặt úp ngoài tay trái gọi là Âm Dương tương hiệp (hữu là Âm, tả là Dương), khí Âm ngậm khí Dương mới sanh Thái Cực là hai bàn tay ôm tròn lại, đó Thái Cực sanh Lưỡng Nghi là hai ngón cái, khi lạy hai ngón cái tréo nhau gài chữ thập, gọi Lưỡng Nghi phân Tứ Tượng, đoạn tám ngón tay kia trải ra gọi là Bát Quái. Nhờ thế mà nhiều kẻ sau nầy được siêu Phàm nhập Thánh gọi là “Biến hóa vô cùng”.

VẤN: Tại sao mà trước khi lạy phải chấm dấu lên trán, rồi chấm qua bên tả và bên hữu?

ĐÁP: Chấm dấu lên trán nghĩa là kỉnh Phật, bên tả là kỉnh Pháp, bên hữu là kỉnh Tăng, gọi là Tam Qui.

VẤN: Tại sao mà lại phải cúi đầu ba lần, rồi mỗi lần cúi phải gật bốn cái vậy?

ĐÁP: Gật ba lần bốn cái là mười hai gật, thế cho mười hai lạy. Lạy mười hai lạy là lạy Thượng Đế vì Thượng Đế là Thập Nhị Khai Thiên, chúa cả Càn Khôn, Thế Giái nắm trọn Thập Nhị Thời Thần vào tay là: Tí, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Số mười hai là số riêng của Thượng Đế.

Tôi hầu đáp với anh cũng đã bộn rồi, đến đây xin dứt, mong rằng anh cứ bình tâm lấy lý mà nghiệm lý thì công trình hầu đáp của tôi chẳng uổng. Chớ như đối với kẻ không do chánh lý, cứ cho người quấy mà cũng không hiểu tại sao người quấy, với hạng ấy tôi chịu làm thinh.


Chung

LUẬN ĐẠO VẤN ĐÁP

Người soạn: NGUYỄN TRUNG HẬU | Người in: LÂM QUANG BÍNH

Thánh Thất New South Wales – Australia
Tái ấn hành năm Nhâm Ngọ 2002

Tài liệu biếu không.


Viết bình luận...