Luân Hồi Quả Báo

Thuyết Luân Hồi qua các Tôn giáo và học thuyết cổ kim


Từ cổ chí kim, từ Âu sang Á, hầu hết các dân tộc, dưới hình thức nầy, hoặc hình thức khác, với một trình độ trí thức thấp kém hay cao siêu, vốn có một tin tưởng tương tợ nhau về sự linh hồn bất diệt. Sự tin tưởng ấy, lúc đầu còn mập mờ vì kém quan sát và thiếu phương tiện khảo cứu, lần lần phải trải qua nhiều thế hệ, cái đức tín ấy mới được minh xác. Cho đến ngày nay, linh hồn bất diệt được cho là một sự thật hiển nhiên. Ngoại trừ phái duy vật, hầu hết các dân tộc nhìn nhận rằng: “Chết không phải là hết”, như nhà Nho bảo: “Sanh ký tử qui” (sống gởi thác về). Chết là xác thịt rã tan, nhưng con người vẫn còn một cái gì thiêng liêng và luôn luôn tồn tại, ta gọi linh hồn đó.

Ðể minh chứng điều nói trên, chúng tôi xin mời quí vị cùng chúng tôi lược khảo các Tôn giáo và học thuyết cổ kim về quan niệm luân hồi.

I. Ở nước Ấn Ðộ

Ấn Ðộ có thể nói là nước phát triển trước nhất về trình độ tinh thần trí thức, là nơi sản xuất nhiều Tôn giáo.

Ấn Ðộ Giáo (Hindouïsme) do Bà La Môn Giáo (Brahmanisme) mà ra và được phổ biến ở Ấn Ðộ tân thời. Ấn Ðộ Giáo có hai phái: một phái thiên về triết lý, lấy kinh Vedas và kinh Upanishad làm căn bản cho giáo lý mình, một phái thì chuyên chú về lễ bái nhiều hơn. Phái sau nầy, ngoài hai thứ kinh kể trên, còn dùng thêm nhiều thứ kinh khác, như Pourânas viết bằng chữ Phạn và theo lối vận văn, trong đó có giảng giải về Càn Khôn Võ Trụ, nguồn cội, tông tích các vị thần và các triều vua chúa. Phái nầy chủ trương rằng tất cả thần linh đều do một Tôn thần độc nhất hóa thân ra và chịu dưới quyền chi phối của ba Hiện thể (Trimourti) của Tôn thần ấy là: Thần Sáng Tạo (Brahma), Thần Phá Hoại (Shiva) và Thần Bảo Tồn (Vishnou).

Trong kinh Pourânas có kinh Bhagavad-gita, trong đó ghi chép những lời giải thích của Ðức Krishna đáp lại những nghi vấn của môn đệ Ngài là vua Arjuna, cũng như Luận Ngữ của Ðạo Nho vậy.

Dưới đây, xin dịch một đoạn trong kinh ấy giải thích về linh hồn và kiếp luân hồi.

“Linh hồn vốn bất sanh bất tử, nó không phải sanh ra lúc trước, nó không thể tái sanh, bất sanh bất diệt, vĩnh kiếp trường tồn và vốn có sẵn từ xưa, nó chẳng hề tiêu diệt khi người ta tiêu diệt thể xác.

Vậy, có lẽ nào một người đã biết nó bất sanh, bất tử, vĩnh kiếp trường tồn, lại giết hoặc mướn giết kẻ khác?

Linh hồn bỏ những xác thân hư hoại để nhập vào những xác thân mới, cũng như người ta bỏ y phục hư rách để mặc vào những y phục mới vậy.

Nầy Arjuna ta đã sanh ra nhiều lần, ngươi cũng thế. Ta thì biết rõ tiền thân của ta duy ngươi chưa biết đó thôi.”

Lời dạy trên đây, chúng tỏ đạo lý Ấn Ðộ thời xưa nhìn nhận linh hồn bất diệt và sự tấn hóa của nó phải trải qua nhiều kiếp chuyển sanh cho tới khi đắc đạo trở về nguyên bổn.

Lối 560 trước Tây lịch kỷ nguyên, Thái Tử Sĩ-đạt-tha (Siddharta) giáng sanh, Ngài là con vua Tịnh Phạn Ðầu-đà-na (Suddhodana), nước Ca-tì-la-vệ (Kapilavastu).

Lớn lên, Thái Tử thấy chúng sanh đau khổ, trong nước chia nhiều giai cấp, còn Ðạo Bà La Môn thì lần lần sai biệt chơn truyền, không còn phù hợp với trình độ tinh thần và trí thức của chúng sanh nên Ngài lìa bỏ giàu sang, quyết tu thành đạo mà giải thoát cho nhơn loại.

Sau khi đắc đạo với danh hiệu là Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài lập ra Phật Giáo, đánh đổ giai cấp và đề xướng chủ nghĩa Từ Bi.

Ngài nhập Niết Bàn rồi thì Phật Giáo chia làm hai tông: Bắc Tông hay Ðại Thừa (Mahayana) xu hướng về duy tâm và được quảng đại quần chúng về theo. Nam Tông hay Tiểu Thừa (Ninayana) hơi thiên về duy vật và lập thuyết theo khoa học và lý trí. Tông nầy lại được hàng trí thức trong nước hoan nghinh.

Về sau, Phật Giáo Bắc Tông truyền bá qua nước Trung Hoa, Nhật Bổn, Việt Nam cho đến ngày nay.

Ðức Thích Ca có dạy chư môn đệ như vầy: «Bực chơn tu công viên quả mãn, đều biết được kiếp trước của mình».

Ngài lại đơn cử một thí dụ cho dễ hiểu:

Có một người kia bỏ làng mình sang ở một làng khác, rồi lại đến ngụ một làng khác nữa. Khi trở về làng cũ là chỗ chôn nhau cắt rún, người ấy nói: “Tôi đã di cư làng nầy đến làng kia, ở đâu tôi cũng có cách ngồi đứng riêng: ngày nay tôi trở về cố hương”.

Theo thí dụ trên đây, Phật ngụ ý bảo rằng bực chơn tu đắc đạo nhớ được những tiền kiếp của mình đã trải qua cũng như kẻ phiêu lưu khi trở về làng cũ, còn nhớ rõ những nơi mà trước kia mình đã cư ngụ.

Trong kinh Tục Tạng (quyển Lục Ðộ Tạp Kinh) có nói rõ sự tích về tiền thân của Ðức Thích Ca lúc chưa thành Phật. Khi hóa sanh làm con vật, khi làm người, mà kiếp nào Ngài cũng đem của cải hoặc hy sinh cả tánh mạng bố thí cho các loài hữu hình.

Nhưng Ðạo Phật không gọi điểm Linh quang là Hồn mà gọi là A-lại-da, người Tàu dịch là Trạng thức hay Nghiệp thức. Theo nhà Phật, con người có Bát thức mà A-lại-da là thức thứ tám. A-lại-da là cái tâm thức, vì lúc ban sơ không giữ được tự tánh, cứ tùy theo duyên kiếp hàm tàng các hột giống tốt xấu, lành dữ, thanh trược, và chứa đủ các món ác kiến, tà kiến, ngã chấp, pháp chấp, vì thế mà tạo nhơn thọ quả rồi phải đọa luân hồi. Khi con người chết, A-lại-da thức đi đầu thai đem theo các hạt giống ấy, tức là những dục vọng và những tư tưởng tốt hay xấu của kiếp trước, gọi là Thức thần.

II. Ở nước Ai Cập

Nước Ai Cập ở vào miền Ðông Bắc Phi Châu, có một nền văn minh rất cổ, mà Tôn giáo lại vô cùng bí mật. Thử để chơn vào bãi sa mạc ấy, ta sẽ ngạc nhiên thấy nào là đền thờ, chùa miễu, nào là đồng trụ, kim tự tháp có khắc cổ tự (hiéroglyphes) với con quái vật đầu người mình sư tử (Sphinx) ngồi xổm lên như đang nghĩ ngợi điều gì. Thêm những mồ mả đúc vào đá đưa những bực lỡ ra tận bờ sông êm đềm lặng lẽ. Ai Cập thật là một pho sách quí mà các nhà khảo cổ dựa vào đó cố sức vén màn bí mật của nền Tôn giáo tối cổ nước ấy.

Cổ Ai Cập tôn thờ một vị Tố Linh Thần có ba thể phù hạp với khoa triết học của Ấn Ðộ: Hỏa Thần Osiris, biểu hiệu Thái Dương, xem xét và bảo hộ linh hồn người chết, Nữ Thần Isis, biểu hiệu Thái Âm, chưởng quản cơ mầu nhiệm tạo hóa, trên hai vị thần ấy là đứng cường kiện, cao minh, tối linh, tối diệu, người Ai Cập không dám bàn luận đến cũng không dám gọi danh là gì.

Dân cổ Ai Cập tin có linh hồn bất diệt và sau khi thoát xác cần có nơi nương dựa. Vì tin tưởng thế, họ bày ra phương pháp ướp xác chết (momie) và xây những kim tự tháp là nơi trú ngụ của linh hồn các bực đế vương, vì họ tin rằng nhờ phép huyền bí, linh hồn người chết sẽ sống lại một cuộc đời mới. (*1)

Theo lễ giáo Ai Cập, người mới nhập môn cầu đạo, trước nhất phải học tự tri. Sau khi làm lễ nhập đạo, tân Tín đồ được một Mục sư đứng giảng rằng:

“Hỡi người có linh hồn mờ tối! Người nên dự bị lấy bó đuốc soi sáng lẽ huyền vi, thì trong đêm khuya tăm tối ở cõi trần gian, người có thể tìm thấy cái Nhị xác thân sáng rỡ và cái Linh hồn thiêng liêng của người được. Ta là kẻ thọ Thiên mạng đưa đường, chỉ nẻo cho người, còn chính người là vị thần hộ mạng cho người đó, vì người nắm giữ các chìa khóa đời trước và đời sau của người vậy”.

Câu trên đây (đời trước và đời sau của người) chứng tỏ Tôn giáo cổ Ai Cập tin có luân hồi chuyển kiếp.

(*1) Thông Thiên Học (Théosophie) lại bảo rằng các Kim Tự Tháp đều do các vị Chơn Nhơn cất ra và chia làm nhiều phòng điểm đạo và dạy đạo cho các đệ tử.

III. Ở nước Ba Tư

Ba Tư là một nước thuộc Châu Á, một cổ quốc rất phồn thạnh.

Ba Tư Giáo (Mazdéïsme) do Ðức Giáo Chủ Zoroastre lập thành, chủ trương hai vị Thần Thiện và Ác. Tôn giáo nầy cho rằng sự cứu cánh của tất cả loài chúng sanh là sự cứu rỗi cuối cùng (rédemption final), chúng sanh phải trải qua nhiều kiếp trả vay, nhơn hồn mới được hưởng hạnh phúc cuối cùng.

Tôn giáo Ba Tư đánh đổ cái quan niệm một cảnh địa ngục giam hãm linh hồn đời đời kiếp kiếp, trái hẳn đức Từ bi của Tạo Hóa.

IV. Ở nước Hy Lạp

Hy Lạp là một nước thuộc Nam bộ Âu Châu, khai hóa rất sớm, tất cả văn hóa Âu Châu gốc bởi đó mà ra.

Nhà hiền triết Pythagore, vừa là một nhà chánh trị và tôn giáo cải cách, sau khi học đạo qua mấy nước Ai Cập, Ba Tư, Ấn Ðộ, trở về Hy Lạp xướng lên thuyết Luân Hồi. Thuyết nầy gồm có hai phần: phần tâm truyền riêng dành cho các cao đồ trí thức lãnh hội về khoa huyền bí, phần công truyền để dạy hạng thường nhơn trí thức còn kém cỏi. Chính phần công truyền nầy đẻ ra cái thuyết “Luân hồi thối hóa”.

Theo thuyết nầy, ông Timée de Locres, một môn đồ của Ðức Giáo Chủ Pythagore bảo rằng: “Linh hồn kẻ hèn nhát chuyển kiếp làm đàn bà để chịu khinh bỉ nhục nhã, linh hồn kẻ sát nhơn chuyển kiếp làm ác thú để đền tội, linh hồn kẻ tồi bại vô liêm chuyển kiếp làm heo lợn, kẻ nhẹ dạ hay thay lòng đổi tánh chuyển kiếp làm chim bay trên không khí, bọn lười biếng điên ruồng, ngu dốt chuyển kiếp làm thủy tộc.”

Ông Hérodote mà thời nhơn suy tôn là “Ông cha của lịch sử” (Le père de l’histoire) tin rằng những linh hồn trong sạch có thể tấn hóa lên các vì tinh tú.

Một cao đồ khác nữa của Ðức Giáo Chủ Pythagore là nhà hiền triết Platon, nêu ra hai luận thuyết:

– Theo luận thuyết thứ nhứt, ông bảo trên thế gian vì sự tử kế tiếp sự sanh, người ta có thể suy ngược lại mà bảo rằng sự sanh cũng kế tiếp sự tử vậy. Lại không có cái gì từ chỗ không mà sanh ra được, cho nên nếu những người chết rồi mà chẳng tái sanh, thì tất cả vạn vật sẽ nối tiếp nhau đi vào chỗ chết mà tiêu diệt.

– Theo thuyết thứ hai, ông căn cứ vào ký ức lực mà lập luận, ông cho rằng học hỏi tức là nhớ lại. Rồi ông suy luận, nếu linh hồn chúng ta nhờ học hỏi mà nhớ đã có sống một lần nào rồi trước khi nhập vào xác hiện tại, tại sao chúng ta chẳng tin rằng sau khi lìa bỏ cái xác hiện tại, linh hồn chúng ta sẽ liên tục thác sanh nhiều kiếp khác nữa.

Ông Platon còn quả quyết linh hồn nào đã tấn hóa đến chỗ toàn thiện, thì không còn chuyển kiếp nữa. Nhưng trước khi lên tới bực cao siêu ấy, tất cả linh hồn sau khi thoát xác phải xuống địa ngục hàng ngàn năm, đến lúc tái sanh (đi đầu thai) vì phải uống nước sông Léthé nên quên cả tiền kiếp của mình.

Tân học phái Platon

Về sau các môn đồ ông Platon dựa theo học thuyết của thầy mà lập ra một học phái mới, gọi là Tân học phái Platon (Ecole néo Platonienne). Tông đồ học phái mới nầy, nhứt là ông Plotin càng làm cho thuyết luân hồi được rõ rệt thêm lên. Nguyên ông có biên tập 64 bộ sách, mỗi bộ gồm 9 quyển gọi Ennéades. Trong những kinh điển ấy, ông thường lập đi lập lại cái thuyết luân hồi. Ông bảo đó là một tín điều đã được công nhận từ đời thượng cổ và truyền bá khắp hoàn cầu, linh hồn nào phạm tội phải chịu hình phạt nơi địa ngục, mãn hạn sẽ được chuyển sanh vào một xác mới để chịu nhiều cuộc thử thách.

Trong quyển thứ chín của bộ hai, ông bảo: “Thiên mạng của các Ðấng Thần Linh qui định cho mỗi người trong chúng ta một kiếp số tương đối với những hành vi của chúng ta trong mỗi kiếp trước.”

Một môn đệ của ông Plotin là Porphyre cũng bác thuyết “Luân hồi thối hóa”. Theo Porphyre, linh hồn con người dù có nhiều tội lỗi đi nữa vẫn chuyển kiếp làm người thôi.

Tóm lại, theo chỗ tin tưởng của các môn đồ ông Pythagore và Platon, thì không có hình phạt vĩnh viễn. Tất cả linh hồn đều tấn hóa thêm lên và nhờ sự cố gắng của mình sẽ tiến lần đến sự cứu chuộc cuối cùng.

V. Ở nước Ả Rập

Nước Ả Rập là một đại bán đảo ở về miền Tây của Nam Á Ðông. Thành La Mecque Thánh địa của nước nầy, là nơi giáo chủ Mahomet giáng sinh. Ngài phải mất 15 năm công phu suy gẫm để tìm phương pháp cải cách tôn giáo và xã hội cho dân Á Rập. Nhơn đó Ngài lập ra Hồi Giáo (Islamisme) năm 622 sau Tây lịch kỷ nguyên.

Lúc sơ khai, Hồi Giáo được nhiều người hoan nghinh nhập môn cầu đạo, mà cũng bị lắm kẻ đứng lên kích bác và đánh đổ kịch liệt. Sau khi Ðức Mahomet qui vị, các môn đồ tiếp tục truyền bá mối Ðạo và được thạnh hành nhứt ở Trung Á, Tây Á, Bắc Phi, Thổ Nhỉ Kỳ và miền Tây Bắc Trung Hoa.

Giáo lý của Hồi Giáo được giảng trong Thánh kinh Coran gồm có 114 chương bằng chữ Á Rập. Hồi Giáo tin có số mạng, tiền định (prédestination) cho nên nếu một tai nạn nào xảy đến cho người Á Rập, họ tự nhủ: “Việc nầy đã tiền định rồi”.

Thuyết Luân Hồi được chỉ rõ trong Thánh kinh Coran, chương XXX:

“Ðức Thượng Ðế hóa sanh vạn vật cho luân hồi chuyển kiếp nhiều lần tới khi chúng trở về với Ngài”.

VI. Ở xứ Judée

Do Thái Giáo (Judaisme), tôn giáo của người Do Thái (Juifs), là nguồn gốc của Cơ Ðốc Giáo (Christianisme).

Thánh Kinh (Bible) vốn có hai phần: phần thứ nhứt nói về Ðạo Do Thái, gọi Sấm truyền cũ hay Cựu ước (Ancientestament), phần thứ nhì nói về Ðạo Cơ Ðốc gọi Sấm truyền mới hay Tân ước (Nouveau Testament).

Dân Do Thái cho rằng cả thế gian đều tin có luân hồi chuyển kiếp.

Sự tin tưởng ấy thấy nói một cách bóng dáng trong Thánh kinh nhưng được giải rõ hơn trong những kinh Phúc âm (Evangiles).

Thử xem những đoạn sau đây:

“Nguyên dân Do Thái tin tưởng rằng theo Cựu ước, ông Elie sẽ trở lại thế gian trước khi Ðấng Cứu Thế (Messie) ra đời. Cho nên, khi môn đồ của Chúa Giê-su hỏi Ngài Elie đã đến chưa, Ngài đáp: Elie đã đến rồi, mà người ta không nhận biết, song họ lại xử với Người theo ý muốn của mình. Con người phải chịu khốn khổ với họ cũng vì vậy.”

Chừng đó các môn đồ mới hiểu rằng Ngài ám chỉ ông Jean Baptiste. (Phúc âm Saint Mathieu, đoạn thứ 17)

Vậy, theo đoạn Phúc âm trên đây, ta thấy rõ Chúa Jê-su ám chỉ rằng Elie đã đầu thai làm Jean Baptiste đó vậy.

Một lần khác, các môn đồ thấy một người ăn xin đui từ trong bụng mẹ, liền hỏi Ngài: “Bạch Thầy, người nầy trước kia đã gây tội lỗi hay vì tội lỗi của cha mẹ làm ra mà người nầy vừa sanh ra đã mang tật đui mù?”

Câu hỏi trên đây chứng tỏ các môn đồ vốn tin có luân hồi quả báo.

Nếu câu hỏi ấy trái hẳn chơn lý, chư môn đồ không khỏi bị Chúa Jê-su quở trách. Nhưng Ngài chỉ đáp: «Không phải tại người ấy trước kia đã gây tội lỗi, cũng không phải tại cha mẹ nó gây ra, mà vốn là việc làm của Ðức Chúa Trời được tỏ ra trong người». (Phúc âm Saint Jean, đoạn thứ 9)

Ðoạn Phúc âm sau đây càng biểu lộ rõ rệt sự tin tưởng về kiếp luân hồi:

Ông Nicodème, trong dòng người Pharisiens hỏi Chúa Giê-su về kiếp tái sanh, Ngài đáp: «Thật vậy! Thật vậy! Ta nói cùng Ngươi, không ai thấy được cõi Trời, nếu chẳng tái sanh».

Nicodème thưa rằng: “Một người đã già tái sanh thế nào được? Người đó làm sao trở vào bụng mẹ rồi sanh ra một lần nữa?”

Chúa Jê-su lại đáp: “Thật vậy, thật vậy, Ta nói cùng ngươi, nếu người ta không nhờ nước và Thánh linh mà tái sanh thì không vào được cõi Trời, đừng ngạc nhiên về lời Ta bảo rằng các ngươi phải sanh lại nữa. Gió muốn thổi đâu thì thổi, các ngươi nghe tiếng động, nhưng không biết nó từ đâu đến và đến rồi đi đâu”.

Nhận thấy Nicodème ngơ ngác không hiểu được, Chúa lại phán: “Tại sao ngươi là giáo sĩ dân Israël mà không lãnh hội được điều ấy?”. (Phúc âm Saint Jean, đoạn thứ 3)

Lời trách ấy chứng tỏ rằng Chúa Jê-su lấy làm lạ sao một nhà giáo sĩ Israël lại không hiểu sự luân hồi, vì trong thời kỳ ấy, cái giáo lý đó vốn được khẩu truyền cho các môn đồ trí thức. Những mật lý tâm truyền lúc bấy giờ đều ghi chép trong những kinh điển gọi là Kabbale đã có trước Cơ Ðốc Giáo.

Về sau ông Simon Ben Jochai chỉnh đốn Kabbale dọn thành kinh Zohar nghĩa là kinh Ánh sáng.

Trong Zohar, có biên chép những khoa nội giáo tâm truyền dành riêng cho các bực tu hành, được điểm đạo. Trong kinh ấy có nói:

“Tất cả linh hồn khổ hạnh tiến hóa từ kiếp nầy sang kiếp khác, nhưng con người không biết được kiếp tiền định của mình ra sao. Linh hồn không biết được phải luân hồi bao nhiêu kiếp và biết bao nhiêu linh hồn tại thế còn phải đọa trần chưa được phản hồi Thánh vức.

Tất cả linh hồn sau cùng đều trở về nguyên bổn là cõi thiêng liêng, nhưng phải trong sạch như lúc giáng thế, bằng chẳng vậy còn phải đọa trần nữa. Một kiếp không rồi thì hai, hai kiếp không rồi thì ba, cứ luân luân chuyển chuyển như thế mãi đến khi được hoàn toàn trong sạch mới thoát trần mà về với Thượng Ðế”.

VII. Ở nước Trung Hoa

Nước Trung Hoa từ thời Tam Ðại đã có một nền văn minh rực rỡ. Người Trung Hoa rất sùng tín sự cúng tế Thiên, Ðịa, Nhựt, Nguyệt, Sơn, Xuyên. Nhà vua lập đàn Nam Giao để tế Thượng Ðế, lập nhà Xã tắc để tế Thổ Thần và Hậu tắc. Qua đời nhà Châu, học thuyết Trung Hoa đã đến cực thạnh, Lão giáo và Khổng giáo khởi đầu từ đấy. Lại thêm Phật giáo từ Ấn Ðộ do Sơ Tổ Ðạt Ma truyền sang rồi Tam Giáo cùng được truyền bá khắp nơi trong nước, gieo cho nhơn dân một tín ngưỡng sâu xa.

Lão Tử đề xướng thuyết Võ Trụ Quan một cách cao siêu tế nhị. Ðạo của Ngài rất huyền bí, chỉ có các bọn cao đồ hiểu thấu thôi, người khác dầu trí thức đến đâu cũng khó lòng mà lãnh hội. Ngài không gọi Ðấng sáng lập Càn Khôn Võ Trụ là Thượng Ðế, mà gọi là Ðạo. Trong kinh Ðạo Ðức của Ngài trứ tác, về phần thứ nhứt luận về Ðạo, ở chương XXV Ngài viết: “Trước khi có Trời Ðất, vốn có một Ðấng vô hình. Ôi! Thật là yên lặng! Riêng đứng một mình không thay đổi, châu hành chẳng dứt, có thể làm mẹ của Trời Ðất. Ta vốn không biết tên gì nên gọi là Ðạo”.

(Hữu nhứt vật hổn thành, tiên Thiên Ðịa sanh. Tịch hề giao hề! Ðộc lập bất cải, châu hành nhi bất đãi. Khả dĩ vi Thiên Ðịa chi mẫu, Ngô bất tri kỳ danh, tự chi vị Ðạo).

Lập thuyết của Ðức Lão Tử là trước khi có Trời Ðất, chỉ có Ðạo. Ðạo là tinh thần của Trời Ðất và vạn vật, mà Trời Ðất và vạn vật là bản thể của Ðạo. Ðạo đã vào trong lòng người rồi thì gọi là Ðức. Vậy muốn sửa mình và trị nước, phải cư xử thế nào cho trên hợp với lẽ Trời, dưới hợp cùng luân lý.

Về sau, Ðạo của Ngài gọi là Ðạo giáo. Cuối đời Ðông Hán, Ðạo giáo càng thạnh hành, Ðức Lão Tử được suy tôn là Thái Thượng Lão Quân.

Ngài không đề cập đến luân hồi mà lại nói rõ về quả báo, tức là mặc nhận có luân hồi vì hai điều ấy phải nối tiếp nhau, có quả báo tức phải có luân hồi mà trả quả.

Trong kinh Cảm Ứng, Thái Thượng nói rằng:

“Sự họa phước không có cửa (không định trước), chỉ người vời nó đến thôi. Ðiều lành và điều dữ đều có trả như bóng theo hình”.

(Thái Thượng viết: «Họa phước vô môn, duy nhơn tự triệu. Thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình»).

Ngoài cơ báo ứng, Ðức Lão Tử hay Thái Thượng Lão Quân vẫn đề cập đến Quỉ Thần, như ở chương «Minh Nghĩa Ðệ Nhứt», Ngài dạy:

“Cho nên Trời Ðất có đặt mấy vị Thần, tùy theo tội lỗi của người nặng hay nhẹ mà bớt lộc. Lộc bớt tất chịu nghèo, thường gặp sự buồn rầu tai nạn”

(Thị dĩ Thiên Ðịa hữu tư quá chi Thần, y nhơn sở phạm khinh trọng dĩ đoạt nhơn toán. Toán giảm tất bần hao đa phùng ưu hoạn).

Ðức Khổng Tử sanh vào đời Ngũ Bá tranh hùng, nhơn dân khổ sở, phong tục suy đồi nên chủ trương của Ngài thiên về thực tế rất nhiều. Ngài định đem luân thường đạo đức dạy người đời đối xử với nhau thế nào cho hợp lẽ phải, chớ không truyền bá những lẽ huyền vi u ẩn, những điều nầy Ngài chỉ truyền cho bậc cao đồ thôi.

Ngài lập ra Lễ, Nhạc tiêu biểu cho phép trật tự và luật điều hòa của Trời Ðất.

(Nhạc giả, thiên địa chi hòa dã, Lễ giả, thiên địa chi tự dã – Sách Lễ ký).

Ðức Khổng Tử tin có Trời, có Quỉ Thần, có họa phước, tức là lẽ báo ứng (nhơn quả).

Theo Ngài, Trời là một Ðấng vô hình mà Ngài gọi là Lý. Lý ấy rất linh động, rất cường kiện, cao minh, Chúa Tể cả võ trụ. Lấy nghĩa cùng tột mà nói, thì gọi là Thái Cực, lấy nghĩa bao quát khắp thế gian, thì gọi là Thiên, lấy nghĩa làm Chúa Tể vạn vật thì gọi là Ðế. Ấy vậy, Trời theo quan niệm của Ðức Khổng Tử, là Ðấng Thái Cực hay Thượng Ðế.

Ðức Khổng Tử đã nhận Thượng Ðế là Chúa Tể vạn vật, tất nhiên nhận có cái ý chí rất mạnh để điều khiển sự biến hóa trong thế gian cho hợp với luật điều hòa, mà một khí ý chí ấy đã định sự biến động ra thế nào, thì không ai cưỡng lại được. Ấy là Thiên mạng hay Ðế mạng. Ðức Khổng Tử rất trọng Thiên mạng, nên Ngài bảo: «Không biết Thiên mạng thì không lấy gì làm quân tử» (Bất tri Thiên mạng vô dĩ vi quân tử giả -Luận ngữ).

Ðức Khổng Tử rất chú trọng sự cúng tế và trong lúc cúng tế phải hết lòng thành kính xem như có Thần tại đó. (Tế Thần như Thần tại – Luận ngữ).

Quỉ, Thần, theo Ngài quan niệm là khí thiêng liêng ở trong Trời Ðất, mắt người không thấy nhưng vẫn thể được muôn vật không sai vật nào, đâu đâu hình như Quỉ Thần ở trên đầu ta, ở bên tả, bên hữu ta (Dương dương hồ như tại kỳ thượng, tại kỳ tả hữu – Trung Dung).

Ngài tin con người có xác và hồn. Khi con người chết, thịt xương chôn dưới đất mục nát và tiêu tan, còn khí thiêng (tức hồn) bay lên trên không rực rỡ (Tử tất qui thổ, cốt nhục tệ ư hạ, âm vi giả thổ, kỳ khí phát dương ư thượng vi chiêu minh – Kinh Lễ).

Về nhơn quả, Ngài bảo: “Người quân tử sợ mạng Trời, ai làm điều quấy, trái lẽ đạo phải tội với Trời, thì còn cầu nguyện vào đâu được” (Quân tử húy Thiên mạng hoạch tội ư Thiên vô sở đảo giả – Luận ngữ).

Ngài còn bảo: “Người làm lành, Trời lấy phước mà ban cho, còn kẻ làm chẳng lành Trời lấy họa mà trả cho”. (Vi thiện giả, Thiên báo chi dĩ phước, vi bất thiện giả, Thiên báo chi dĩ họa – Minh Tâm).

VIII. Ở nước Nhựt Bổn

Quốc đạo của Nhựt Bổn là một tôn giáo phát khởi tại nước họ trải mấy mươi đời chớ không phải từ ngoài nước truyền sang. Quốc đạo ấy gọi là Thần giáo (Shintoïsme), trước hết thờ Thái Dương Thần Nữ (Amatérosu) biểu hiệu ngôi Thái Dương (Mặt trời), kế đó thờ chư Thần, sau nữa là thờ ông bà cha mẹ.

Người Nhựt tin có linh hồn và sau khi con người chết, linh hồn vẫn tồn tại.

Qua thế kỷ thứ 3, vì chịu ảnh hưởng văn hóa nước Tàu và mượn Hán tự chế ra văn tự của mình, người Nhựt tuy hấp thụ ít nhiều giáo điều của Khổng giáo và Phật giáo truyền sang, nhưng quốc đạo của họ vẫn không kém phần thạnh hành.

Sau cuộc Tôn giáo cải cách 1868, ngôi Thái Dương Thần Nữ được thay thế bằng ngôi Thượng Ðế. Thờ cúng, người Nhựt thì chỉ dùng hương trà hoa quả thôi.

IX. Ở nước Việt Nam

Nước Việt Nam thuở xưa trên 1.000 năm lệ thuộc nước Tàu, tất nhiên phải chịu ảnh hưởng văn hóa nước nầy. Phàm phong tục và tín ngưỡng đều do học thuật và tôn giáo mà ra. Mà người Việt khi xưa đã theo học thuật và tôn giáo nước Tàu là Nho, Thích, Ðạo rồi vào thế kỷ 19 Thiên Chúa giáo lại truyền sang. Vậy nước Việt Nam từ xưa vốn theo Tứ giáo, lẽ tất nhiên đã hấp thụ tín ngưỡng của bốn giáo ấy.

Gần đây, cách đâu lối ba mươi mấy năm, ở Việt Nam lại nổi lên phong trào Tân Tôn giáo do các Ðấng Thiêng liêng lại dùng thần cơ diệu bút giảng dạy và chủ trương.

Trước nhứt Ðức Ðạo Tổ tức Thái Thượng Lão Quân giáng lập đạo Minh Lý, có đền thờ Tam Tông Giáo Chủ là Thích Ca, Lão Tử, và Khổng Tử, cho nên đền thờ ấy gọi là “Tam Tông Miếu”.

Kế đó, Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ (người ngoài gọi Ðạo CAO ÐÀI) xuất thế, rồi tới Ðạo Minh Thiện, Minh Tân, vân vân…

Những đạo nầy chủ trương thuyết linh hồn bất diệt và Luân hồi, Quả báo.

Ðạo Minh Lý có kinh “Sám hối”, cũng gọi là kinh “Nhơn quả”, là một cuốn kinh chỉ rõ lẽ báo ứng của luật Trời và khuyến khích người đời hồi đầu hướng thiện.

Về lẽ báo ứng, tức nhơn quả, xin trích trong kinh «Sám hối» một đoạn dưới đây:

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Ðiều họa phước không hay tìm tới,
Tại người dời nên mới theo mình.
Cũng như bóng nọ tùy hình,
Dữ lành hai lẽ công bình thưởng răn.
Khi vận thới lung lăng chẳng kể,
Lúc suy vi bày lễ khẩn cầu.
Sau bằng ở phải buổi đầu,
Thần minh chánh trực có đâu tư vì.
Người làm phước có khi mắc nạn,
Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang.
Ấy là nợ trước còn mang,
Duyên kia chưa dứt còn đang thưởng đền.
Nếu vội trách người trên thì đọa,
Cũng có khi tai họa trả liền.
Ðó là báo ứng nhãn tiền,
Mau thì mình chịu, lâu truyền cháu con.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Về kiếp Luân hồi, xin xem đoạn dưới đây:

Xuống địa ngục đọa đày hành mãi,
Ðúng số rồi còn phải luân hồi.
Hóa Công xem xét đền bồi,
Lành siêu, dữ đọa thêm nhồi tội căn.

* * *

Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ nghĩa là Ðại Ðạo phổ độ kỳ ba, là kỳ mạt pháp nầy (Troisième Amnistie de Dieu). Ðại Ðạo do Ðức Thượng Ðế dùng huyền diệu cơ bút lập thành, tôn chỉ là «Qui Tam Giáo, hiệp Ngũ Chi». Vì tôn chỉ ấy, nên Ðại Ðạo ngoài Thiên lý mật truyền, còn thâu nạp lý thuyết căn bản của Tam Giáo và Ngũ Chi, đồng thời Ðại Ðạo có trách nhiệm thuyết minh những lý thuyết đã bị người đời, hoặc vì thời gian, hoặc vì hiểu lầm mà sai biệt. Ðại Ðạo thờ Ðức Thượng Ðế bằng Thánh Tượng «THIÊN NHÃN».

Dưới đây là Thánh huấn của Ðức Thượng Ðế tá danh Cao Ðài giáng cơ ngày 26 tháng 5 năm 1926 cho biết ý nghĩa sự thờ phượng ấy:

“Chưa phải hồi các con biết đặng tại sao vẽ “Con Mắt” mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho hiểu chút đỉnh:

Nhãn thị chủ tâm,
Lưỡng quang chủ tể.
Quang thị Thần,
Thần thị Thiên,
Thiên giả Ngã dã.

“Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh từ ngày Ðạo bị bế. Lập “Tam Kỳ Phổ Ðộ” Thầy cho Thần hiệp với Tinh Khí đặng đủ Tam Bửu.

“Phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật từ ngày bế Ðạo,thì luật lệ hỡi còn nguyên, luyện pháp chẳng đổi, song Thiên đình mỗi phen đánh tản Thần, không cho hiệp cùng Tinh, Khí. Thầy đến đặng hườn nguyên Chơn Thần cho các con đắc Ðạo. Các con hiểu “Thần cư tại Nhãn”, bố trí cho chư Ðạo hữu các con biết với. Nguồn cội Tiên Phật, yếu nhiệm là tại đó. Thầy khuyên các con mỗi khi nói Ðạo, hằng nhớ đến danh Thầy”.

Khi Ðại Ðạo vừa sáng lập, Ðức Quan Âm Bồ Tát giáng cơ tại đàn Minh Lý, dạy dâng kinh “Sám hối” qua cho Ðại Ðạo. Lễ tiếp kinh cử hành tại Thánh Thất Cầu Kho, cho nên Ðại Ðạo và Minh Lý Ðạo cùng tụng một thứ kinh ấy.

Về kiếp Luân hồi, Ðức Thượng Ðế có giáng cơ dạy như thế nầy:

“Các con đã sanh ra tại thế nầy, ở tại thế nầy, chịu khổ não tại thế nầy, rồi chết cũng tại thế nầy, Thầy hỏi: Các con chết rồi, các con ra thế nào? Các con đi đâu? Chẳng một đứa hiểu đặng cơ mầu nhiệm ấy. Thầy dạy:

“Cả kiếp Luân hồi thay đổi từ trong vật chất mà ra thảo mộc, từ thảo mộc đến thú cầm, loài người phải chịu chuyển kiếp ngàn ngàn muôn muôn lần, mới đến địa vị nhơn phẩm. Nhơn phẩm nơi thế nầy lại chia ra phẩm giá mỗi hạng. Ðứng bực Ðế Vương nơi trái địa cầu nầy chưa đáng vào bực chót của địa cầu 67. Trên địa cầu 67, nhơn loại cũng phân ra đẳng cấp dường ấy. Cái quí trọng của mỗi địa cầu càng tăng thêm hoài cho tới “Ðệ nhứt cầu”, “Tam Thiên Thế Giái”, qua khỏi “Tam Thiên Thế Giái” thì mới đến “Tứ Ðại Bộ Châu”, qua khỏi “Tứ Ðại Bộ Châu” mới vào đặng “Tam Thập Lục Thiên”, vào “Tam Thập Lục Thiên” rồi phải chuyển kiếp tu hành nữa mới đặng lên đến “Bạch Ngọc Kinh” là nơi Ðạo Phật gọi “Niết Bàn” đó vậy…”.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển

Về Nhơn quả, có bài Thánh huấn dưới đây, cũng trích ở Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

“Chư môn đệ và chư nhu nghe: Chim lìa cội, nước tách nguồn, từ xưa con người giữa thế chẳng qua là khách đi đường, phận sự muốn cho hoàn toàn, cần phải bền chí và khổ tâm, có bền chí mới đoạt được phẩm vị thanh cao, có khổ tâm mới rõ tuồng đời ấm lạnh, lăng xăng xạo xự mùi chung đỉnh, vẻ cân đai, rốt cuộc chẳng khác chi một giấc huỳnh lương mộng. Mỗi bực phẩm đều đặng một vai tuồng của Ðấng cầm quyền thế giái ban cho, dầu thanh cao, dầu hèn hạ, cũng phải gắng làm cho rồi trách nhiệm, hầu buổi chung cuộc, hồn lìa cõi trần đến nơi khởi hành mà phục hồi công cán, ai giữ trọn bực phẩm đặng Tòa Nghiệt Cảnh tương công chiết tội để vào địa vị cao hơn chốn địa cầu 68 nầy, ai chẳng vẹn trách nhiệm nhơn sanh phải bị đọa vào nơi U Minh Ðịa để trả xong tội tình căn quả cho đến lúc trở về nẻo chánh đường ngay mà phục hồi ngôi cũ, bằng chẳng biết sửa mình thì luật Thiên điều chồng chập, khổ A Tỳ phải vướng muôn muôn đời đời mà đền tội ác. Bậc nhơn sanh vì đó mà phải chịu thiên niên chìm đắm vào sổ luân hồi vay trả, trả vay, căn quả chẳng bao giờ tiêu đặng”.



Viết bình luận...