Chuyện nầy trích ở “Chuyện cổ nước Nam”. Dầu rằng, người ta có thể bảo chuyện cổ là chuyện bịa đặt, nhưng thấy tác giả tin tưởng Luật Nhơn Quả và có dụng ý khuyến thiện, chúng tôi mượn chép ra đây:
Xưa có một người tên Châu Văn Ðịch, làm ăn vất vả, cửa nhà đói kém, nhưng tánh khí hiền lành, ăn ở thật thà có nhơn, có đức.
Trong hạt có một nhà giàu thường cho người ấy vay nợ, năm nào cũng vậy, vay vay, trả trả đã nhiều.
Gặp năm mất mùa, người ấy không trả được nợ, mà ông nhà giàu cũng không hỏi đến. Mấy năm sau, người ấy chết đi, nợ vẫn còn lại. Nên lúc hấp hối còn trối với con rằng:
“Nợ nần chưa trả cho ai,
Hồn nầy thác xuống tuyền đài chưa yên”.
Một đêm, ông nhà giàu kia nằm mơ, nghe có tiếng người nói ở bên tai rằng:
“Tái sinh chưa dứt hương thề,
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai”.
Sáng ra ông thấy con trâu đẻ ra được con nghé trên lưng có hai chữ “Văn Ðịch”.
Con nghé mỗi ngày một lớn, khôn ngoan dễ bảo, cày bừa rất khỏe. Người biết chuyện, ai cũng bảo rằng:
“Người ăn thì còn,
Con ăn thì hết.
Ðã đến lúc chết,
Hãy còn nhớ ơn”.
Cách ít năm, hai đứa con Văn Ðịch khôn lớn lên, làm ăn nhờ Trời cũng khá. Một hôm đang cày ngoài đồng, nghe thấy ở thửa ruộng gần đấy có người bảo con trâu rằng:
– Văn Ðịch! Văn Ðịch! Nhanh chơn, mau bước, kẻo đã trưa rồi.
Hai đứa con nghe kêu tên cha, ngạc nhiên chạy sang bên ruộng hỏi thì người kia nói rằng:
– Con trâu nầy từ lúc sanh ra, trên lưng có hai chữ “Văn Ðịch”, mà có gọi đúng tên nó như thế, thì nó mới chịu làm.
Lúc về hai đứa con vội vàng sang nhà ông nhà giàu hỏi chuyện tỏ ý muốn mua con trâu, thì ông ấy bảo rằng:
– Trước tên “Châu Văn Ðịch” có vay nợ ta, không trả được ta cũng không đòi? Có lẽ gì vậy, mà phải hóa kiếp làm con trâu nầy trả nghĩa cho ta. Ðã mấy năm nay nó làm ăn chịu khó, trong nhà ta đây cũng được thạnh vượng. Nó trả như thế, ta cho cũng là đủ rồi. Vậy hai người có phải là con, muốn mua chuộc về thì ta để lại cho. Ta lại trả cả văn khế cũ đem về mà hóa kiếp cho yên hồn cha.
Khi hai đứa con chuộc được con trâu về, vừa đem tờ văn khế ra đốt, thì nó lăn ra chết. Thế là nó đã trả sạch được nợ kiếp trước rồi.
Thấy chuyện nầy, người ta mới đặt câu “Kéo cày trả nợ” thành câu tục ngữ.
Chuyện nầy trích ở quyển sách “Vấn đề con người và số phận” của Léon Denis, trang 289 “Le problème de l’ être et de la destinée”.
Năm 1862, ông hoàng Galitzin cùng với Hầu tước B… và Bá Tước R… đi nghỉ hè tại bờ suối nóng ở thành Hambourg. Một buổi chiều, ăn uống xong, có hơi trễ, ba người cùng đi dạo trong vườn một hí viện. Bỗng ba người bắt gặp một mụ bần hàn ngủ trên một chiếc “băng”. Ba người liền đánh thức mụ và sau khi hỏi thăm tình cảnh cơ hàn lại dẫn mụ về khách sạn cho ăn uống no nê. Nguyên ông hoàng Galitzin vốn là một nhà biết thuật “thâu thần” nên nảy ra ý định thôi miên mụ ấy. Lạ một điều là bình thường mụ ấy chỉ bập bẹ một thứ thổ ngữ nước Ðức, thế mà lúc ngủ mê trong giấc thôi miên mụ lại nói tiếng Pháp đúng đắn và rành rẽ. Mụ bảo kiếp trước vào thế kỷ 18, mụ là một thiếu nữ giàu sang ở một biệt thự tại xứ Bretagne. Vì tư tình với kẻ khác, mụ nhẫn tâm xô chồng từ một tảng đá xuống biển chết tươi. Cho nên kiếp nầy mụ phải chịu bần cùng khốn khổ để đền tội kiếp trước. Mụ còn cho biết rành mạch nơi đã xãy ra án mạng ấy.
Về sau, ông hoàng Galitzin cùng Hầu tước B… dò theo lời mụ chỉ, đến xứ Bretagne tìm được nơi ấy, rồi hai người chia ra hai ngả để điều tra riêng nhau cho chắc ý. Lúc đầu hỏi không ai biết, sau gặp nhiều ông lão hỏi thăm thì mấy ông ấy bảo rằng có nghe cha mẹ thuật lại chuyện một thiếu nữ kiều diễm và giàu sang ở một biệt thự nọ, vì ngoại tình, đành nhẫn tâm xô chồng xuống biển. Thế là lời mụ kia thú tội trong giấc ngủ thôi miên đã được xác nhận.
Khi ông hoàng về ngang qua Hambourg, ông ghé hỏi thăm viên cảnh sát trưởng nơi đây về lai lịch của mụ ấy, thì được biết mụ chỉ biết bập bẹ được ba tiếng Ðức và sống bằng nghề đưa rước quân nhơn.
* * *
Chuyện Nhơn quả dưới đây viết theo tài liệu rút trong bản phúc trình của Hội Khảo Cứu Thần Linh Học thành Huesce, nước Tây Ban Nha (Espagne) mà tờ Tạp chí Khoa học và Luân lý Thần Linh Học năm 1912 có đăng tải (Revue scientifique et morale du spiritisme).
Từ năm 1881 tới năm 1884, người ta vẫn thấy đi lang thang trên đường thành Huesca một người điên tên Suciac. Chàng ăn vận một cách hì hợm, cứ nói lầm thầm một mình, ai hỏi điều chi cũng chẳng trả lời. Về sau, vì thấy hắn trở nên nguy hiểm, người ta buộc phải xem chừng từng hành động của hắn.
Cũng tại thành nầy có một Hội Khảo Cứu Thần Linh Học (Groupe d’Etudes spirites) của một nhóm người học thức trung bình, mà Hội Trưởng là ông Domingo Montréal và đồng tử là Sanchez Antonio. Ðồng tử nầy vốn không biết chữ, nhưng lại có cái đặc biệt là “chấp bút” viết ra không hề chấm câu, nhưng cũng có khi viết được nhiều bài dài thậm thượt và đúng theo văn phạm.
Khi Suciac chết, hồn anh giáng bút do Antonio viết ra cho biết kiếp trước anh là vị lãnh chúa (Seigneur) thành Sangarren, vì gây nhiều tội lỗi nên chuyển sanh phải thọ khổ mà trả quả. Suciac còn quả quyết rằng nếu muốn tin chắc nên quan sát những tài liệu trong văn khố còn giữ tại đền đài của anh ta ở trong kiếp trước tại Sangarren.
Nghe vậy nhóm người trong Hội Khảo Cứu Thần Linh Học gồm có quí ông Domingo Montréal, Severo Lain, và Marvallo Bakkestar đích thân đến cái đền cổ ấy để quan sát nhưng người nơi đó bảo rằng đền ấy không chứa một dấu vết gì về văn khố cả.
Mấy ông ấy thất vọng trở về bảo Antonio chấp bút hỏi lại thì hồn anh Suciac về cho biết những tài liệu ấy giấu kín bên cạnh lò lửa trong nhà bếp.
Ðoàn quan sát bèn đến Sangarren một lần nữa và được người ta cho phép dò xét trong nhà bếp, thì lạ làm sao, họ tìm được một mớ tài liệu viết trên da mỏng và giấu trong một chỗ kín vách tường.
Những tài liệu ấy được đem về thành Huesca, nhờ giáo sư Oscariz dịch ra tiếng Tây Ban Nha thì đúng theo lời của hồn anh Suciac đã cho biết.
Ðức Ca-na-đề-bà (Kanadeva) Tổ sư thứ 15 của Phật giáo bên Ấn Ðộ, có lần sang truyền đạo tại nước Tila. Thuở ấy, vườn ông trưởng giả Phạm Ma Tín Ðức có một cây đại thọ sanh ra một thứ nấm rất thơm, thường bữa ông cùng con thứ hai là La Hầu La Ða nhổ nấm ấy ăn rất ngon, mà hễ nhổ sớm mai thì chiều thấy nấm khác mọc ra.
Tổ sư vốn biết rõ nguyên nhơn việc ấy, nên đến viếng trưởng giả và giải cho ông ấy biết việc lạ ấy vốn như vầy: “Nguyên trong một tiền kiếp, ông và con ông thành tâm cúng dường cho một thầy tì khưu. Nhưng thầy ấy đạo hạnh chưa hoàn toàn, quanh năm suốt tháng cứ ngửa tay thọ lãnh của hai người mà ăn tiêu, nhưng chẳng lập được một đạo nghiệp nào đáng kể. Cho nên kiếp nầy tỳ khưu ấy phải đọa sanh làm nấm đặng trả món nợ tín thí ở kiếp trước đó vậy”.
Nghe thuật rõ có báo ứng, ông trưởng giả liền thưa:
–Bạch Tôn sư, tôi vô phước không sớm được gặp Ngài, nay tôi đã già nua, sức yếu tiếc không thể theo hầu hạ Ngài, nay tôi tình nguyện cho con tôi đây là La Hầu La Ða theo thọ giáo, xin Ngài từ bi thâu nạp.
Tổ sư vui vẻ đáp:
– Kiếp trước con ông đã có duyên lành được Ðức Như Lai Thế Tôn thọ ký, sau nầy sẽ là một vị Giáo chủ trong Phật đạo. Vậy, sự hội ngộ hôm nay không phải ngẫu nhiên, mà là do duyên từ trước vậy.
(Viết theo tài liệu rút trong “Sự tích 33 vị Tổ sư “ của Phật giáo).
Chuyện nầy viết theo tài liệu rút trong “Sự tích 33 vị Tổ sư” do Phật học Tạp chí “Từ bi âm” xuất bản.
Ðức Cưu-ma-la-đa (Kumarata) là Tổ sư thứ 19 của Ðạo Phật bên Ấn Ðộ. Sau khi đắc đạo, Ngài sang thuyết pháp bên miền Trung Ấn Ðộ. Thuở ấy có đại sĩ Xá-dạ-đa hỏi Ngài:
– Bạch Ngài, song thân tôi vốn hiền lương, rất tin sùng Phật giáo, song thường bị đau ốm và bất câu làm việc gì cũng thất bại; còn người bên cạnh, chuyên nghề hàng thịt sát hại chẳng biết bao sanh mạng. Ấy vậy mà hắn vẫn khỏe mạnh và làm ăn ngày thêm phát đạt. Thật tôi không rõ thế nào là cơ báo ứng, cúi xin Ngài từ bi chỉ giáo.
Tổ sư giảng giải:
– Cơ báo ứng vốn có ba thời kỳ, không nên lấy lẽ thạnh suy, bĩ thới hiện tại mà đoán được căn phần hiện tại. Phải biết cái lý nhơn quả không bao giờ sai chạy. Nhơn với quả cũng như bóng với hình, hình thẳng tức bóng ngay, hình chinh tức bóng lịch. Người đời không rõ cái lý ấy mới dám ngờ vực khi thấy bực hiền lương mà hoạn nạn, kẻ bạo tàn lại được vinh quang, chớ họ biết đâu rằng sở dĩ kẻ tích ác mà đặng giàu sang là nhờ hưởng cái duyên kiếp trước, cũng như kẻ hiền từ mà chịu nghèo khổ là tại cái oan nghiệt tự mình đã tạo ra kiếp xưa, nên kiếp nầy phải trả. Ðến như cái nhơn hiện tại là mầm móng cái quả tương lai đó vậy.
Ðành rằng có ba nghiệp, nhưng mỗi nghiệp cũng do vọng mà sanh, vọng hoặc lại do thức tình mà dấy, thức tình sở dĩ có vì tánh bất giác, mà tánh bất giác lại ở nơi tâm. Nhưng bổn thể của tâm vốn là thanh tịnh, không sanh, không diệt, không tạo tác mà cũng không báo ứng. Con người thấu được chỗ diệu lý ấy, thì đối với họ, tất cả những pháp hữu vi và vô vi đều là mộng ảnh, không cần phải quan tâm đến.
Người như vậy tức đồng bực với Phật đó.