Diễn Văn và Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc

PHỤ LỤC 2 : Tờ Phúc sự của Hội Thánh gởi ông Chủ Trưởng Ủy Ban Điều Tra thuộc địa của Pháp.


Chào bạn, tôi tiếp tục thực hiện **PHỤ LỤC 2**. Đây là một tài liệu rất quan trọng về mặt lịch sử

CAODAISME ou Bouddhisme renové

Saint Siège de Tây Ninh


RAPPORT adressé par le SACERDOCE CAODAIQUE à M. le PRÉSIDENT de la Commission d’enquête dans les Territoires d’Outre-Mer et sa traduction.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
3è Amnistie de Dieu en Orient

Tòa Thánh Tây Ninh


Bản dịch Việt văn của Hội Thánh :

TỜ PHÚC SỰ của Hội Thánh Đạo Cao Đài gởi cho Ông Chủ trưởng Ủy Ban Điều Tra các Thuộc địa và bổn dịch văn.

Le Sacerdoce Caodạste interrogé par vous sur la rénovation du système colonial français s’excuse tout d’abord d’être obligé de mêler un peu de mystique dans l’exposé de son point de vue; il s’en abstiendra néanmoins le plus possible de façon à toucher la masse des penseurs libres, et il les prie d’avance de lui concéder qu’une religion ne peut exister sans une croyance suprême.

Pour sa Défense, nous nous permettrons de rappeler ici que des hommes dont la valeur philosophique n’a jamais été contestée, tels que Allan Kardec, Léon Denis, ont cru aux mystères de l’Au-delà; et si nous citons ces noms connus, c’est parce que ce sont ceux qui en Europe se sont le plus rapproché des Doctrines Bouddhistes que nous pratiquons.

Hội Thánh Đạo Cao Đài, nhờ Ngài hạch vấn, về duy tân chánh sách Thuộc địa Lang sa, xin trước kiếu lỗi cùng Ngài, chúng tôi buộc lòng phải đem pha lẫn điều bí ẩn huyền vi đạo giáo trong tố chương đã kiến thức : Hội Thánh sẽ nhận bỏ một đôi điều hầu có thể hiệp ý cùng các vị tự do tư tưởng và xin các vị ấy cũng nhường nhận cho rằng : chẳng hề khi nào một nền tôn giáo thành lập mà không có sự cực kỳ tín ngưỡng.

Muốn bênh vực nó, chúng tôi mạn phép xin nhắc đến những người mà giá trị triết lý không còn phương chi từ chối đặng : Tỉ như Allan Kardec, Léon Denis mà cũng còn tin tưởng những điều bí ẩn của cõi Hư Vô và nếu chúng tôi kể tên ra đây, là vì nơi cõi Thái Tây, duy các danh nhơn ấy thiên lệch những tôn chỉ của Phật giáo mà chúng tôi đang hành đạo.

Dans l’ignorance presque complète, où le monde vit, de ce que les humains deviennent après leur mort; quoi de plus défendable qu’une opinion discrète à la condition qu’elle ne tende pas à subjuger les autres.

N’est-il pas logique dans un monde où l’on a trop souvent l’occasion de voir les mauvais vivre heureux dans l’opulence, et les bons vivre dans la souffrance et dans la misère, de croire qu’un équilibre se rétablira au cours d’une autre vie ou de supposer que certains expient les fautes d’une vie antérieure ?

Trong sự mơ màng hầu trọn, nơi cõi đời đang sống, nơi con người khi mãn phần thì phải thế nào, chẳng chi hay hơn là một luận thuyết kín đáo, chỉ xin luận thuyết ấy đừng đè nén các luận thuyết khác ?

Lẽ chí lý có phải chăng trong một hoàn võ mà ta có dịp thấy chán chường những kẻ tiểu nhơn sống với một phần sang trọng vinh hiển, còn người quân tử thì chịu khổ não truân chuyên, mà tưởng rằng sẽ có sự công bình thường bồi lại cho kiếp khác hoặc là có kẻ phải chịu quả báo của nợ tiền khiên ?

Notre conception de la justice, résultat de cet équilibre, se rassure à cette pensée; et si cet équilibre moral entre tous les êtres que nous appelons Justice, n’existait pas; çà n’est pas ce que nous voyons autour de nous dans la vie, qui aurait pu nous suggérer l’idée réconfortante de son existence.

La Foi en la Justice, c’est-à-dire dans un équilibre supérieur n’est donc pas vaine, et elle est génératrice du bien; car quel besoin aurait-on de faire le bien, dans tout ce qu’il a parfois de peu attrayant, si on ne devait pas en être récompensé ?

Về mặt nạp dụng công lý chúng ta, là do nơi sự công bình ấy mà sản xuất, với nhờ tư tưởng đó mà đảm bảo. Nếu chẳng có sự công bình và tâm lý ấy trong toàn thể mọi người mà chúng ta lại gọi Công lý thì Công lý chẳng hề ra hiện hữu. Điều đó chẳng phải người tu thấy xung quanh mình trong kiếp sống mà nó nhủ cho ta để ý lạc hứng hầu tin rằng nó quả có thật.

Cái Đức tin nơi Công lý, nghĩa là tin nơi sự công bình cao thâm chẳng phải là vô lối và nó làm cho sanh sản thêm điều tận thiện, vì thoảng như chẳng vậy thì chúng ta cần chi phải làm lành mà sự lành ấy đòi phen chẳng làm cho chúng ta hoan tâm, nếu không đặng hưởng một phần thưởng chi tất cả.

L’homme d’ailleurs ne peut vivre sans faire tous les jours des actes de Foi; il ne s’agit pas ici de la Foi religieuse, mais de la Foi tout court.

Les plus incrédules ne font-ils pas quotidiennement des actes de Foi, ne fuât-ce qu’ en lisant leur journal ?

Bien entendu, plus un esprit est éclairé, moins il a besoin de faire d’actes de Foi, mais néanmoins, comme le même être ne peut pas tout savoir; sur les points qu’il ignore, il est obligé de faire des actes de Foi vis-à-vis de ceux qui sont mieux renseignés que lui.

L’ignorant, au contraire, fait des actes de Foi toute la journée et pendant toute sa vie.

Con người chẳng hề sống trong một ngày mà không làm việc với Đức tin. Nơi đây chẳng phải nói về Đức tin đạo đức mà nói về Đức tin trơn thôi.

Những người vô tín ngưỡng, mỗi ngày họ có làm theo Đức tin của họ chăng, chỉ nói họ đọc báo chương là đủ ?

Thầm hiểu rằng : một cái tánh đức sáng suốt chừng nào thì ít cần làm theo Đức tin chừng nấy; mà một người chẳng đủ toàn tri toàn năng, theo những nơi khuyết điểm của họ thì họ cũng còn phải buộc mình làm theo Đức tin của những người lịch lãm hơn họ.

Hạng dốt nát, trái lại, làm theo Đức tin cả ngày và suốt cả đời.

Pourquoi, dans ces conditions, dénier la Foi religieuse et les mystères de l’Au-delà alors la plupart de ceux qui les condamnent ne les ont pas étudiés à fond, et que ceux qui s’adonnent à ces études ne s’y livrent souvent qu’accessoirement et ne possèdent à leur sujet qu’une documentation restreinte sur les travaux qui ont été faits avant eux.

Sans vouloir nous étendre davantage, nous dirons seulement que la Religion et la Foi dans l’Au-delà sont une nécessité pour le peuple; et que, plus un peuple est malheureux ou misérable, plus il a besoin d’espérer qu’une compensation lui est réservée pour plus tard et plus il a besoin de la conviction que cette compensation n’est pas un vain mot.

Bởi những duyên cớ trên đây, sao lại chối Đức tin đạo đức và huyền vi bí ẩn nơi cõi Hư Vô, trong cơn phần đông nhiều kẻ đã chê bỏ nó mà chẳng chịu tìm hiểu cho tận cùng; còn những người chuyên môn học thuyết ấy thì chỉ làm cho lấy có và đặng nơi tay rất ít oi triệu chứng về công trình của người trước đã làm.

Chẳng cần bày bố cho dong dài, chúng tôi xin nói quyết : Đạo và Đức tin nơi cõi Hư Vô là một vật cần yếu cho dân sanh đó vậy. Hễ dân tộc nào càng khổ não hay là khốn đốn, thì họ lại càng cần phải trông cậy sự bù đắp dành để cho họ buổi sau kia và phải cần tin chắc rằng : sự bù đắp ấy chẳng phải là lời nói mộng.

Le désespoir individuel mène au suicide; et le désespoir collectif à la révolution.

Le fait d’entretenir chez ceux qui souffrent cette consolation que leurs maux auront une fin, est donc une oeuvre de première necessité; et il appartient à ceux qui sont plus éclairés et qui croient sincèrement à cette compensation, d’entretenir dans le coeur de ceux qui souffrent cet espoir qui adoucit leurs maux. C’est le rôle auquel nous nous consacrons.

Or, vous admettrez avec nous que, si chez un peuple libre, cette espérance est déjà fort utile; chez un peuple colonisé, elle devient indispensable.

Sự thất vọng của cá nhơn giục phải tự tử và sự thất vọng của toàn thể giục làm cách mạng.

Cái sở hành làm cho trong tâm của mỗi người đang chịu đau đớn đặng bền giữ sự an ủi nầy là điều khổ não của họ có chỗ kỳ cùng, ấy là một cơ quan trọng yếu nhứt; và thuộc phận sự của những người sáng kiến là tin thật rằng có sự bù đắp ấy đặng bền để cái hy vọng nơi tâm những kẻ đau thảm hầu làm cho nhẹ bớt sự khổ não của họ, ấy là cái vai tuồng của chúng tôi đã định thi thố.

Vậy thì Thượng quan cũng phải chịu với chúng tôi rằng : đối với một dân tộc tự trị, cái hy vọng ấy rất nên hữu dụng, đối với một dân tộc bị chinh phục, nó lại thêm yếu trọng.

Étudions maintenat, si vous le voulez le rôle des religions dans la conquête de l’Indochine par la France.

L’histoire de la conquête et de la colonisation de ce pays a été écrite par de nombreux historiens, plus autorisés que nous, qui avaient à leur disposition des documents que nous n’avons pas, nous ne nous risquerons pas à en reproduire ici une mauvaise imitation.

Mais puisque c’est le côté moral seul auquel nous nous attacherons, nous allons tenter de mettre en lumière les raisons profondes qui ont guidé les deux peuples dans une transformation de leurs rapports entr’eux jusqu’au point où nous en sommes arrivés aujourd’hui.

Nếu Thượng quan vừa lòng, chúng ta nên nghiên cứu ngay vai tuồng các tôn giáo trong lúc nước Pháp sang qua chinh phục cõi Đông dương.

Lịch sử nói về sự chinh phục và thâu thủ xứ nầy làm thuộc địa do bởi nhiều sử gia đã viết trước, có đủ phương thế và đủ tài liệu sẵn để cho họ nghiên cứu, mà chúng tôi không có, nên dám mạo hiểm đem chường ra nơi đây một sự học đòi thô kệch.

Nhưng chỉ về mặt tinh thần mà chúng tôi chú trọng thôi, nên thử đem ra ánh sáng những lý lẽ thâm thúy nó đã dắt hai dân tộc đến sự biến hóa cùng nhau mà ngày nay đã đến đỗi nầy.

Nous n’étonnerions personne si nous disons que nous voyons dans cette histoire le contact de deux civilisations; pourquoi étonnerions-nous davantage en ne prenant de ces deux civilisations que l’essence même qui les a créées; c’est-à-dire en vous montrant qu’elles ne sont que le reflet de deux religions.

Les rapports de la France et de l’Annam s’ils sont en effet une lutte de deux civilisations en général, sont bien plus encore celle de deux religions qui se sont affrontées.

Ces deux religions sont : d’une par le Confucianisme, d’autre part le Christianisme.

Chúng tôi tưởng không làm cho một ai lấy làm lạ nếu nói rằng : chúng tôi thấy trong đoạn lịch sử nầy, sự tương hội của hai văn hóa; sao lại chúng tôi cũng làm cho thiên hạ lấy làm lạ hơn nữa là chỉ lấy cái tinh túy của hai văn hóa nầy đã sản xuất, nghĩa là chỉ cho Ngài rõ rằng : chúng nó thật là hình bóng của hai nền tôn giáo.

Sự tương hiệp của nước Pháp và nước Việt Nam, nếu chẳng phải đều do hẳn nơi sự tương tranh của hai nền văn hóa thì thật ra là do sự xung đột của hai nền tôn giáo.

Hai nền tôn giáo ấy : một đàng là Khổng giáo, một đàng là Thiên Chúa giáo.

PREMIÈRE STADE / KHOẢN THỨ NHỨT

Nous avons indiqué que le peuple d’Annam soumis à un Confucianisme trop tolérant et dont la morale était insuffisante à contenir les appétits de ses mandarins, ne trouvait plus de protection dans la religion de ces ancêtres. Il manquait au Confucianisme cette autorité qu’avait su imposer la Religion Chrétienne, à l’époque de la Monarchie absolue, lorsqu’elle faisait se courber les têtes couronnées sous l’excommunication ou sous la simple menace d’excommunication, et ce, souvent pour le plus grand bien du peuple français.

Jamais le Confucianisme n’avait eu de ces réactions audacieuses; il n’a jamais fait autre chose que d’appeler les hommes vers le bien par ses exhortations, sans menacer ni rejeter de son sein ceux qui ne se conformaient pas à ses doctrines.

Chúng tôi đã chỉ rõ rằng : dân tộc Việt Nam đang theo Khổng giáo rất quảng đại, nên tinh thần của nó không đủ phương kềm thúc những điều tham tàn của trường quan lại, thành thử không tìm đặng sự bảo bọc trong tôn giáo của tổ phụ họ. Khổng giáo thiếu quyền năng của Thiên Chúa giáo đã hữu định, trong buổi vương quyền độc chiếm, khi nó đã làm cho các vua chúa phải cúi đầu dưới quyền trục xuất hay là hăm trục xuất ra khỏi Đạo, và lại đã làm cho dân tộc Pháp nhờ nhỏi biết bao.

Chẳng hề buổi nào Khổng giáo dám phản động mạnh bạo như thế, nó chẳng làm chi khác hơn là kêu gọi nhơn sanh vào đường chí thiện, bởi cách khuyên nhủ, không hăm dọa sa thải khỏi cửa Khổng những kẻ không trọn tùng tôn chỉ.

Le résultat fut qu’un nombre important de malheureux, lassés d’une religion ancestrale qui ne les protégeait pas contre les abus de ses mandarins, écoutèrent l’appel des missionnaires catholiques qui enseignaient une autre morale également très belle; celle de Christ; et ils allèrent à elle avec d’autant plus de facilité qu’elle était plus agissante.

Des Chrétientés avaient été ouvertes en maints endroits et ces domaines s’étaient transformés un peu en terre d’asile aussi, bientôt les néophytes vinrent-ils dans ces lieux pour se mettre à l’abri de leurs madarins prévaricateurs.

Kết cuộc, một số khá đông người bất phước chán ngán với tôn giáo của tổ phụ, bởi nó không thể bênh vực họ trong điều quá quyền của quan lại, rồi nghe những thầy truyền giáo của đạo Thiên Chúa dạy một giáo lý cũng vẫn tốt đẹp là Đạo của Christ, nên họ liền theo giáo lý ấy một phương cách dễ dàng vì bởi nó cần mẫn họ hơn.

Nhiều nhà chung đặng khai mở mọi nơi và những cơ nghiệp ấy biến thành Thánh địa, bởi cớ, liền đó, nhiều kẻ tùng giáo đến trú ngụ đặng tránh sự tham tàn của quan lại.

Malheureusement, ce refuge qui servait de lieu de réconfort à l’Annamite pourchassé par la rapacité de ses mandarins, servait également de refuge à ceux qui cherchaient à se soustraire purement et simplement à des châtiments mérités; et la conscience publique annamite commença à s’émouvoir de ce que les Chrétientés permettaient parfois à des criminels avérés, d’échapper à la justice mandarinale qui les recherchait.

Des réactions sanglantes se produisirent contre les néophytes et leurs pasteurs : le sang coula. Il y eut des martyrs de la Foi Chrétienne et la France qui, à ce moment, était la fille aỵnée et reconnue de l’Église, entendit venger le sang de ses missionnaires; elle en profita pour faire la conquête d’une grosse partie de la Cochinchine et pour imposer son Protectorat à l’Annam.

Hại thay, nơi làm chỗ đình trú cho những người Việt Nam bị quan lại tham tàn áp bức, lại cũng dùng làm nơi trú ngụ ho những kẻ trốn tránh tội tình đáng trừng trị, nên dân tâm người Việt Nam khởi ra sôi nổi rằng : các nhà chung che chở những chánh phạm thoát vòng công lý của các quan viên tập nả.

Nhiều phản động dữ dội khởi dấy lên đối với các tín đồ và các vị giáo sĩ : lưu huyết. Đã có tử đạo vì đức tin Thiên Chúa giáo và nước Pháp buổi ấy, vốn là trưởng nữ nhìn nhận của Đền Thánh, nhứt định báo thù sự lưu huyết của các vị truyền giáo, nên thừa cơ hội ấy, chinh thâu một phần đất khá lớn nơi Lục Tỉnh và buộc nước Việt Nam tùng quyền bảo hộ.

DEUXIÈME STADE / KHOẢN THỨ NHÌ

La France fut victorieuse, et de ce fait, l’autorité des Chrétientés augmenta de jour en jour, pendant que l’élément Confucianiste rétrogradait.

Les vieilles coutumes d’Annam ne s’étaient malheureusement pas modifiées, et les mandarins n’avaient pas changé leurs méthodes, néanmoins l’énorme majorité du peuple annamite restait cependant attachée malgré tout à ses traditions.

Nước Pháp đắc thắng, và vì lẽ ấy, quyền hành các nhà chung tăng thêm hằng buổi, trong cơn Khổng giáo thối bộ từ từ.

Hại thay, những cổ tục Việt Nam không thay đổi và quan lại cũng không canh cải chánh sách, nhưng phần đông của quốc dân vẫn còn đeo đuổi theo tục lệ xưa mãi.

Le Christianisme en effet exigeait le renoncement solennel aux croyances paiennes; c’était grave ! Il fallait renier formellement l’autel de ses ancêtres et le culte séculaire qui leur était duâ; pour aller se prosterner devant de nouveaux autels près desquels l’annamite ne cherchait un refuge que dans un but exclusivement intéressé.

Les cathéchumènes n’étaient certes pas trompés dans leurs espérances; car ils étaient dispensés de l’impôt, obtenaient des concessions et devenaient propriétaires, là où les autres n’étaient que fermiers ou coolies. Dès que surgissait une difficulté, leur missionnaire allait trouver les Résidents de France et tout s’arrangerait selon leur désir. L’intérêt de la Chrétienté étant avant tout de grouper des paroissiens riches et généreux.

Thiên Chúa giáo thì buộc phải từ bỏ những sự tín ngưỡng ngoại đạo, ấy là điều trọng hệ. Phải từ chối hẳn đền thờ của tổ phụ và sự tế tự đã roi truyền, đặng đến quì lạy trước những đền thờ mới mẻ mà người Việt Nam chỉ vì mục đích tư danh tư lợi, tìm tàng đến đặng trốn lánh.

Những người giả đạo ấy không lầm trong sự hy vọng của họ, bởi vì họ đặng miễn thuế, đặng đất địa và trở nên gia chủ những nơi mà kẻ khác chỉ làm tá điền hay là làm tớ mà thôi. Khi có điều gì khó khăn xảy đến, thì các Cha, Cố đạo đến lo với quan Công Sứ Pháp và mọi điều đặng hoan hỷ theo ý muốn của họ. Các nhà chung vụ tất sự tom góp theo mình những nhà đạo giàu có và quảng huợt.

TROISIÈME STADE / KHOẢN THỨ BA

Vint alors la troisième période : celle de la collaboration. Ce mot fut prononcé un jour par M. Albert Sarraut, Gouverneur Général de l’Indochine dans un de ses discours; et il eut une repercussion jusque dans les coins les plus reculés des campagnes.

Longtemps, il chercha en vain la concrétisation du rêve que son Gouverneur Genéral avait fait naỵtre dans son coeur; et , un jour, – beaucoup plus tard, – en faisant ce qu’en France vous appelez des recherches spirites, – il eut une révélation qui lui donna la solution du problème.

Đây đã đến thời kỳ thứ ba : là thời kỳ hiệp tác. Tiếng hiệp tác nầy là của ông A. Sarraut, Tổng Thống Toàn Quyền Đông Dương đã thuyết ra trong một bài diễn văn của người và nó đã truyền hình đến tận cùng nơi thôn quê sằn dã.

Hèn lâu, người đã hoài tâm tìm tỏi đặng làm cho hiện tướng cái mơ mộng của quan Tổng Thống Toàn Quyền của người đã gieo trồng trong tâm lý, và một ngày nọ, người học theo phương cách của bên Pháp, gọi là Khảo cứu Thần Linh Học, người đặng một cái bí truyền cho người một phương giải xong toán pháp ấy.

Fait au Saint-Siège Caodạque de TâyNinh.
(Le 12 Novembre 1937)
Signé : PHẠM CÔNG TẮC
Supérieur du Caodaïsme ou Bouddhisme rénové.

Lập tại Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
(Ngày 12 tháng 11 năm 1937)
Ký tên : PHẠM CÔNG TẮC
Giáo chủ Đạo Cao Đài hay Phật giáo Chấn hưng.


Viết bình luận...