Lời Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp – Q1

41 DẠY PHƯƠNG PHÁP GIẢNG ĐẠO


Ngày 10 tháng 10 năm Ðinh Hợi (1947) tại Hiệp Thiên Ðài

Bài học văn chương của Chí Tôn (cours rhétorique) rất giản dị. Hành tàng Pháp hay Việt, cũng chẳng khác nhau, nói hay viết cũng giống như một bài thi. Cách hành văn (tenue) chia ra từng đoạn: Sujet đối với phá thừa. Développement đối với trạng luận. Dénouement đối với thúc. Conclusion đối với kết.

Diễn văn phải giữ chặt niêm luật có mực thước như một bài viết, phải khép vào một khuôn luật nhứt định, nếu không, nghẹt lối, không ngỏ ra. Trong các nền Tôn Giáo, đó là sự rất trọng hệ, như Ðạo Gia Tô ngày xưa mở ra, mười hai vị Thánh Tông Ðồ học ở trong nhà Bà Sainte Maria, nhờ có chơn linh giáng hạ giúp sức. Ngày kia Ðức Chúa Jésus nói: Miệng các Người là miệng ta, lời đạo đức các Người thốt ra là lời của Ta, các Người phải đi truyền Tân Ước (Nouveau Testament) mười hai (12) vị Tông Ðồ đều dốt, nhờ chơn linh giáng hạ nhập thể, hễ nhập thể thì phát huệ.

Lúc chưa biết Ðạo, tôi cũng không tin điều ấy, đến lúc ở chùa Gò Kén trước mấy ngàn người, tôi bước lên giảng đài đi qua lại đến 16 vòng mà hễ ngước mặt lên thấy đầu người lố nhố, sợ hải không thuyết được. Kế phát sật sừ như say rượu không còn thấy ai nữa hết. Say đáo để, nói mà không biết nói những gì, chừng xuống đài thiên hạ khen mới biết, may là trước tập nhiều rồi đó. Chí Tôn dạy tôi và anh Cao Thượng Phẩm, hễ người nầy thuyết thì người kia nghe, nhờ vậy nhứt là nhờ anh Cao Thượng Phẩm kiêu ngạo nên phải cố gắng, vậy mà lúc lên đài còn quáng mắt. Tôi buộc mấy anh em, chị em, tập cho quen dạn, Ðạo sau nầy muốn truyền ra thiên hạ cần phải thuyết. Ðó là vô tự kinh, viết sách truyền bá không bằng thuyết giảng, cần phải có niêm luật. Với ai thì sợ chớ với nòi giống Việt Nam mình đã có sẵn văn hiến bốn ngàn năm làm bổn. Có ba môi giới: Phú, Tỉ, Hứng. Phú là đọc thông sách vở đem nguyên văn ra giảng giải cho rõ nghĩa. Tỉ lấy cổ soi kim, dùng tích xưa giải hiện tại. Hứng là đứng lên giảng đài rồi phát hứng chí mà nói. Hậu thuẩn do ba môi giới nầy là: Kinh, Ðiển, Luật. Muốn Phú phải thuộc Kinh mới Phú được. Tỉ thì phải lấy điển tích ra mà ví dụ đặng so sánh. Hứng không được ngoài khuôn luật, ngoài sự thật, không được nói bậy…. nhớ ba chơn tướng trước, ba hậu thuẩn sau. Một bài thi đủ cho mình thuyết giáo rồi, với Chí Tôn điều chi cũng không khó. Như là:

“Yến Tử Hà xưa lúc vận cùng,
Còn mang dép rách đến Quang Trung.
Nay con chưa rõ thông đường Ðạo,
Cứ ngóng theo chơn Lão tháp tùng.”

Ngài ngụ điển rồi mới lấy tích, như hai câu đầu, hỏi tại sao Yến Tử Hà lại mang dép rách đến Quang Trung? Yến Tử Hà là tôi của nước Hàn, nước Hàn mất đi tìm nơi cầu cứu hầu rửa nhục cho nước mình, Sở Bá Vương chê người Hàn không dùng, nên Yến phải lận đận, nghèo khổ phải mang dép rách đến Quang Trung tìm Hớn Bái Công. Hai câu sau các con cứ theo Thầy, con để bước của con lên dấu chơn của Thầy thì không bao giờ lạc lối. Yến bị bạc đãi, nước Hàn bị chiếm, (Trương Tử Phòng là người Hàn cũng trong thời đó). Hỏi tại sao Chí Tôn lấy tích gì? Nước mình cũng mất như nước Hàn, Yến đi làm tôi cho Hớn đặng báo thù cho Hàn. Chí Tôn muốn nói: Các con muốn báo thù nước thì làm như Yến vào Quang Trung, muốn nước các con còn thì theo Thầy.

Thôi, thí nghiệm thử xem, mấy anh em cho tôi một cái đề đi rồi tôi thuyết. Như bài thi:

“Phong Thần đừng tưởng chuyện mờ hồ,
Giữa biển ai từng gặp Lão Tô.”

Chuyện Phong Thần đừng tưởng viết ra là bịa đặt. Lão Tô là Tô Ðông Pha, ông Tổ của nòi giống Phù Tang, ai dè ngoài biển có Tô Ðông Pha nghĩa là có sắc dân bên Phù Tang. Ai từng gặp mà gặp là có đa.

“Mượn thế đặng toan phương giác thế,
Cũng như mượn bút của chàng Hồ.”

Ông Ðổng Hồ lãnh cầm cây viết, viết Sử của Vương Kiệt là đắc thắng, thấy Vương Kiệt bị hại mà không sợ, vào đó lãnh cũng như Thầy hiện giờ, đến đây nhơn loại đương tàn ác, mượn cái tàn ác đó đặng thức tỉnh chúng sanh, như Ðổng Hồ đã không sợ chết, thì Thầy sẽ thắng như Ðổng Hồ vậy, đặng lập quyền cho các con của Ngài đặng thành tựu. Hồi đời đó có một người tướng tài của nhà Tần mà ngồi không, không chịu kháng chiến. Ðổng Hồ ghi: Tội thất quốc nầy là của anh chàng, hỏi tại sao? Tại anh ngồi không, làm liệt bại tinh thần tranh đấu, nên tội ấy của anh gánh chịu đó. Bài nầy đầy đủ trong khuôn luật.

Phụ ghi: Lịch Việt Nam. Ngày âl. 10–10–Đinh Hợi nhằm ngày (dl. 22–11–1947).



Viết bình luận...