Tôi ký tên dưới đây là Nữ Chánh Phối Sư Hương Hiếu. Ngày tháng nhẹ nhàng trôi qua thắm thoát, tuổi Ðạo ba mươi mấy năm rồi mà tôi mảng lo phục vụ cho nhơn sanh từ buổi trung niên cho đến nay đầu bạc, chưa có thì giờ nhàn rỗi để soạn lại những gì tôi đã làm “Tôi” Trời Phật và Hội Thánh Tây Ninh. Hôm nay tôi nghĩ rằng “Quang âm như thạch hỏa xá thế vô bá tuế nhơn”. Vì thế mà tôi viết quyển sách nầy để nhắc lại kể từ ngày được may duyên sớm gặp nền Ðại Ðạo cho đến ngày nay tôi bảy mươi ba tuổi, đặng hầu lưu lại trong lúc tôi qui vị cho khỏi mất công quý vị tìm kiếm công quả những ngày tôi hành Ðạo tại thế.
Tôi là con của ông Nguyễn Văn Niệm và bà Trần Thị Huệ. Cha mẹ tôi đã khuất hết rồi. Ngày sanh tôi: Năm Ðinh Hợi, Date de naissance 1886 (Lieu de Naissance: Rue Paulbert Dakao Saigon). Khi tôi mới khai sanh, Bà Nội tôi muốn tỏ dấu một nhà đạo đức, nên cha tôi là Nguyễn Văn Niệm, thì Bà Nội tôi đặt tên tôi là Nguyễn Thị Hương, còn Bà Ngoại tôi thì đặt cho tôi là Nguyễn Thị Hiếu. Cha tôi muốn vừa lòng cả nội ngoại đôi bên, nên khi ở bên nội thì gọi tôi tên Hương mà khi về bên ngoại thì gọi tôi tên Hiếu. Thân sinh quê quán tại tỉnh Cần Thơ. Thân mẫu ở miền Gia Ðịnh.
Thuở tôi vừa nên 7 tuổi, thân mẫu tôi cho tôi vào học trường Bà Phước (Nhà Trắng) Sàigòn, đến 17 tuổi cho học nữ công, qua năm 21 tuổi sánh duyên cùng ông Cao Quỳnh Cư ở làng Hiệp Ninh (Tây Ninh), năm 23 tuổi tôi sanh được một trai tên là Cao Quỳnh An. Ðến năm 38 tuổi, gặp thời kỳ Chí Tôn đến khai nền Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ. Một sự ngẫu nhiên của cơ huyền bí mà trước kia ba ông Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh có tính cách Xây Bàn cầu vong để làm thi tiêu khiển, đâu có ngờ là thời kỳ Ðức Chí Tôn khai cơ mở Ðạo. Ðức Chí Tôn giáng cơ tại nhà tôi trước, đầu tiên ở đường Bourdais số nhà 134 Sàigòn.
Năm 1925 khai Ðạo chưa có Thánh Thất, nên các Ðấng Thiêng Liêng dạy tạm dùng nhà tôi để thờ Ðức Chí Tôn và Phật Mẫu đặng có nơi cầu cơ dạy Ðạo và dìu dắt nhơn sanh trong buổi đầu tiên là năm 1925. Ðến năm 1926, mới mở Ðạo lần tới Tân Kiệm, Tân Ðịnh, Lộc Giang, Thủ Ðức. Trong buổi chưa có Ngọc Cơ còn xây bàn, các Ðấng giáng dạy Ðạo cho Ðức Hộ Pháp, Ðức Cao Thượng Phẩm và Ðức Thượng Sanh thì bàn gõ từ chữ, Ðức Thượng Phẩm hô chữ nào thì tôi chép chữ nấy rồi mới ghép lại cho thành văn.
Vì thế mà lúc còn xây bàn, các Ðấng giáng cho một bài thi Bát cú hay Tứ cú hoặc dạy việc gì, khi chép xong rồi mới ráp lại một bài thật là lâu lắm, mà mỗi đêm mỗi cầu, buổi ấy tôi làm Biên Tập Viên (Thơ Ký) cho các Ðấng. Thi văn của các Ðấng dạy Ðạo, có nhiều câu văn rất cao kỳ và mầu nhiệm. Vì thế mà ba ông mê thi văn của các Ðấng nên đêm nào cũng thức để cầu cơ học hỏi cho đến khuya trong bảy tháng trường như vậy ai cũng ốm gầy xanh xao hết mà không đêm nào buồn chán. Bổn phận tôi ban đêm làm Thơ Ký chép Thánh giáo học hỏi, còn ban ngày thì lo yến tiệc tiếp đãi quí khách thượng lưu, trung lưu, hạ lưu, thiên hạ rộn rịp tới lui tìm Ðạo, ngày nào chẳng nhiều thì ít, khách gần khách xa lui tới liền liền trong năm 1925.
Trong hai năm 1925, 1926 chưa có người để chép Thánh giáo, nên tôi được vừa làm Thơ Ký cho các Ðấng và tiếp đón nhơn sanh, từ tháng 6 năm Ất Sửu (1925) đến năm Bính Dần (1926); lúc sau dời về chùa Gò Kén mới có người chép phụ với tôi (mà cũng là phần ít). Hồi chưa có Tòa Thánh, còn trong buổi phôi thai, mỗi khi khai đàn thượng tượng (thờ Thầy), riêng về phần tôi theo chép Thánh giáo đem về cho Ðức Cao Thượng Phẩm chấm câu, còn chủ nhà chép riêng theo phần của chủ nhà (khai Ðạo tại Sàigòn). Lúc nầy nhà tôi còn ở Sàigòn, Ðức Chí Tôn mở Ðạo trước tại Sàigòn bảo Ðức Thượng Phẩm vẽ Thiên Nhãn (Thánh Tượng nhỏ còn đó), còn tôi thì lo mua khuôn kiếng đặng lộng Thiên Nhãn cho chư vị mới nhập môn, tôi cho thỉnh không khỏi trả tiền và tôi còn phải dạy thờ cúng và dạy đọc kinh. Tôi giảng giải sơ lược chớ còn nhiều chi tiết khác. Trải bao thỏ lặn ác tà, những hàng trí thức cùng người mộ Ðạo tìm đến nhập môn khá đông thì tôi lại phải để hết lòng lo tiếp đãi và chỉ dẫn trong lẽ Ðạo, thời gian ấy tôi quên cả gia đình và sản nghiệp, chỉ vui say theo đường Ðạo mà các Ðấng thường giáng đến dạy dỗ khuyên lơn.
Ðến tháng 3 năm Bính Dần (1926) Chí Tôn giáng cơ dạy tôi may Thiên phục cho ông Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt trước hết, kế may Thiên phục cho Hiệp Thiên Ðài và Cửu Trùng Ðài. Tôi may Thiên phục áo mão kể trên đây là hồi tôi và cả Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài, Cửu Trùng Ðài còn ở Sàigòn. Trong lúc tôi đang may, tôi lại nhớ như ai nhắc tôi, nhớ lời Thầy giáng cơ gọi tôi: “Hiếu con lo may Thiên phục cho mấy anh con cho kịp ngày Ðại Hội”. Ðại Hội là ngày Khai Ðạo tại Từ Lâm Tự Gò Kén Tây Ninh. Ðang lúc may dường như có Thiêng Liêng khiến cho tôi nhớ lại chùa Gò Kén là chùa Phật lạ lùng, mà thuở giờ mình chưa quen biết với những Ni cô ở chùa mà cậy mượn sắp đặt việc trù phòng để lo việc nấu ăn, nấu uống cho Chức Sắc và Thiện tín 20 tỉnh tựu đến hầu Ðàn, nếu không lo trước chừng đó biết cậy mượn ai, vừa may vừa đang lo tính thì Chí Tôn bố trí cho tôi sáng suốt lật đật viết thơ về Tây Ninh, cậy mượn bà con tôi như chị Ðại Hương Cả Trịnh Thị Thị, chị Trịnh Thị Cung, chị Trịnh Thị Dung. Tôi cho em dâu tôi là vợ Huyện Thiệt thay mặt dùm tôi mang bức thơ về Tây Ninh cho 3 chị của tôi. Trong thơ tôi sở cậy ba chị tôi sắp đặt việc trù phòng, nào đắp lò, nào đào giếng, đương nia, sịa, rổ, tràng, chuốt đũa…v.v… và dặn em dâu tôi ở luôn trên ấy để chung lo với ba chị tôi.
Ngày khai Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ tại Tây Ninh kể dưới đây: Ngày 14 tháng 10 Bính Dần (18–11–1926), cả thảy Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài và Cửu Trùng Ðài đều về chùa Gò Kén thì tôi cũng theo về một lượt để làm công quả. Phần tôi dầu ở Sài Gòn hay về chùa Gò Kén thì luôn luôn có bổn phận lo tiếp đãi Chức Sắc và Quan khách ngoài đời. Việc tiếp đãi trong Ðạo, ngoài đời trong thời buổi ấy không phải giờ khắc, nấu đãi liền liền, khách đến giờ nào đãi giờ nấy, vì kẻ xa người gần, hết tốp nầy đến tốp khác, buổi Khai Ðạo tại chùa Gò Kén thật là một kỳ Ðại Hội. Ban đêm hễ cúng thời Tý rồi thì cầu cơ nhập môn kéo dài đến hai ba giờ sáng thì phải lo nấu đãi một chập giải lao nữa. Như vậy trong ba tháng trường ngày lẫn đêm, tôi phải thường trực lo nấu ăn đi chợ và tiếp đãi không sót ngày nào. Hơn nữa, lối 5 giờ chiều tôi lo viết sớ cho Nữ phái nhập môn, lại dạy cách lấy dấu và quì lạy đặng lo cho họ thành thuộc đến giờ Tý thì tôi tiến dẫn vào nhập môn và hầu Ðức Lý Giáo Tông. Buổi Khai Ðạo chưa có Ðồng Nhi, nên tôi phải làm Ðồng Nhi đọc kinh cúng Tứ Thời và đọc kinh cầu cơ đêm nào như đêm nấy suốt cả ba tháng trường.
Qua đến ngày 20–02 Ðinh Mão (23–03–1927), Hội Thánh trả chùa Gò Kén lại cho ông Hòa Thượng Giác Hải, thỉnh cốt chư Phật và cốt Ðức Phật Thích Ca cỡi ngựa về đất mới mua là nơi Ðền Thờ và dinh thự đồ sộ, nguy nga nơi vùng Tòa Thánh ngày nay mà thiên hạ ngoài đời thời buổi ấy gọi là Chùa Mới là vậy đó. Chỗ đất mới mua đây là đất của ông Kiểm Lâm người Pháp. Hội Thánh mua lại, trước kia là một khu rừng rậm, cây cối um tùm, chưa có nhà ai cho lắm, chỉ có một hai cái nhà ở rải rác ngoài bìa rừng, mà ngày nay thành vùng Thánh Ðịa Tòa Thánh nguy nga, dinh thự lộng lẫy, nhà cửa kinh dinh thịnh vượng. Cái công trình kiến thiết buổi ban sơ không phải là dễ.
Nói về vấn đề phá rừng (thành Thánh Ðịa), buổi ban sơ dọn về đất mới, Ðức Hộ Pháp và Ðức Cao Thượng Phẩm tính phá rừng mà không có nhà ở, nên phải tạm sửa cái nhà bò của chủ bán đất còn để lại, rửa cho sạch sẽ, phân làm ba ngăn. Hai ông mượn công quả đi đốn cây nạn đặng làm cái chõng để nằm, đi đốn cây săn con làm vạc, trên thì lót bố tời đặng nằm cho êm lưng đỡ vậy thôi. Ngày nào hai ông cũng dẫn dắt công quả đi chặt chỗ nầy đốn chỗ kia để phá cho trống đặng cất Tòa Thánh tạm, lần lần phá đến đâu thì cất đến đó đặng an vị chư Phật và có chỗ nơi cho nhơn sanh sùng bái. Phần của tôi trong lúc tạo tác, thì phải lo lắng nấu ăn cho công quả phá rừng có cả ba trăm người Thổ. Mọi việc khởi đầu nan, hễ thiếu tới đâu thì tôi lo tới đó. Vì chưa lập Cửu Viện để sắp đặt việc ăn uống cho công quả hằng ngày, buổi đó chưa có Trai Ðường, nên hễ phá rừng đến đâu thì tới bữa cơm dọn ăn phải gánh đồ theo đấy, lựa chỗ nào có bóng cây thì trải đệm dọn cơm. Ăn xong thì dọn chén bát đem về trù phòng là nơi nhà bò mà rửa ráy.
Khi tạo tác vừa xong, bão tố bất ngờ năm Mậu Thìn (1928), Ðức Cao Thượng Phẩm bị nhơn sanh bạc đãi, xô đuổi chúng tôi trở về Thảo Xá Hiền Cung. Ðến năm Kỷ Tỵ (1929), Ðức Cao Thượng Phẩm qui vị vào lúc 10 giờ 30 ban mai ngày mồng 1 tháng 3 Kỷ Tỵ (1929). Tôi lo tuần tự cho Người xong xuôi rồi tôi cũng trở về Tòa Thánh tiếp tục làm công quả nữa. Năm Canh Ngũ (1930), tôi vâng lịnh Ðức Lý Giáo Tông bắt thăm đi hành Ðạo, giữa Bửu Ðiện, tôi bắt nhằm thăm tỉnh Sa Ðéc, sau tôi được lịnh Hội Thánh cho tôi kiêm luôn tỉnh Thủ Dầu Một. Ðến năm Ất Hợi (1935), tôi được thăng phẩm Phối Sư khỏi đi hành Ðạo địa phương, chỉ hành Ðạo tại Tòa Thánh. Năm 1946 nền Ðạo phục hưng, tôi lãnh Chưởng Quản 3 Viện: Lại Viện, Lễ Viện, Hòa Viện Nữ phái. Ðến năm 1950 thăng phẩm Chánh Phối Sư.
Tôi viết thiên tiểu sử nầy, một là bước đường hành Ðạo trọn đời tôi, hơn nữa để lưu lại cho đoàn em Nữ phái thấy rõ công trình của người tiền bối trong buổi sơ khai nền Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ nhiều nỗi gian lao mà chư Chức Sắc Thiên Phong và người công quả buổi đầu vẫn không sờn tâm chí vì nền Chơn Giáo của Chí Tôn và Phật Mẫu hầu lưu lại cho đoàn hậu tấn làm gương để dọn mình tiến bước trên con đường hành Ðạo.
Tu hành gắng chí lập dày công,
Ðến buổi chung qui hưởng phước hồng.
Cửa Ðạo gay go trường khổ hạnh,
Ðường Tiên nhàn rưới bước thong dong.
Lợi danh ví muốn cho đầy đủ,
Tội lỗi càng thêm nỗi chất chồng.
Cuộc thế chẳng qua trò ảo mộng,
Ngày về nhắm mắt nắm tay không.
Nữ Chánh Phối Sư HƯƠNG HIẾU