Đức Tin

IV. TA TIN CÓ SỐ MẠNG


Nếu con người có số mạng thì lẽ công bình của Tạo Hóa ở đâu? Đấng Tạo Hóa là bực chí công, sao lại sanh ra kẻ giàu người nghèo, kẻ khôn người dại, kẻ sống lâu, người chết yểu?

Ấy là câu hỏi thường tình của người thuộc về phái “Duy vật luận” (Matérialisme). Con người vẫn có số mạng, song cái số phú bần, quí tiện, thọ yểu ấy đều do nơi tiền kiếp mình gây ra. Kiếp trước ta nhơn từ, đức hạnh, kiếp nầy ta được hưởng phước giàu sang. Kiếp trước ở bất nhơn độc ác, kiếp nầy phải chịu khổ cùng mà đền tội trước. (*1)

Sự thông minh ám muội của con người do nơi duyên cớ sau nầy:

Cõi trần là một chốn học đường cho linh hồn học tập. Ai học được lâu năm, lên được nhiều lớp thì vẫn thông minh hơn kẻ học sau. Trí thức tên Xoài trổi hơn trí thức tên Ổi là vì tên Xoài đã luân chuyển nhiều kiếp hơn tên Ổi.

Sự thọ, yểu của con người cốt do nơi hai cớ: Một là tại nơi người, hai là vì mạng số.

Tại nơi mình không biết giữ vệ sanh.

Tại nơi khí bẩm mẹ cha yếu ớt rồi sanh con yếu ớt, lại thêm dưỡng nuôi không đặng kỹ càng cho nên trẻ con phải cam phần yểu tử.

Tại nơi mình say mê mùi tục làm cho hao tán tinh thần mà phải chết sớm. Tỉ như một thếp đèn chứa được hai chiêm dầu. Nếu thắp vừa vừa, không lu không tỏ, đèn ấy chong (sống) được trọn đêm. Mà nếu mình khêu tim lên cho thật tỏ, dầu phải chóng hao, rồi tự nhiên thếp đèn phải tắt (chết) trong canh hai, canh ba vậy.

Luận thế sao cũng có người hỏi rằng: “Có người cũng biết giữ vệ sanh, biết bảo tồn thân thể, mà sao cũng chết yểu vậy?”

Kẻ ấy kiếp trước vì mấy duyên cớ mới giải trên đây mà phải yểu mạng (hoặc là bất đắc kỳ tử) nghĩa là chết trước ngày tiền định, vì lỗi tại nơi mình, nên kiếp nầy phải tái thế, mà chỉ sống thêm cho đủ số phần đã định nơi kiếp trước vậy thôi, nên số không trường thọ. Tỉ như tội nhơn kia bị án một năm tù, ở được tám tháng lại vượt ngục thoát thân. Nay bắt buộc phải ở tù thêm bốn tháng nữa cho đúng kỳ mãn hạn. (Có khi còn phạt thêm về tội đào tị là khác).

Bất đắc kỳ tử có phải là tại số mạng chăng?

Bất đắc kỳ tử là gì? Là chết không nhằm (đặng) chỗ. Đã gọi không nhằm chỗ thì tưởng lại không phải là do nơi số mạng.

Bất đắc kỳ tử do nơi hai cớ:

1/. Kẻ hủy mình là vì bị cảnh tình sở bức, hết mong sống sót là vui, nên chi quyết chí liều thân để sớm dứt rồi oan trái. Thác như vậy là muốn trốn lánh điều khổ hạnh của đời người mà ai ai cũng phải chịu một phần gánh vác. Kẻ hủy mình chẳng khác nào tội nhơn vượt ngục, vì không đủ sức chống chịu với khổ hình cho đến kỳ mãn hạn. Mấy kẻ ấy không những phạm tội trốn lánh mạng Trời mà lại còn đáng cho người đời khinh bỉ. Trừ ra kẻ nào tử tiết (*2) thì mới được chế châm.

2/. Chết về rủi ro (*3) là tại mình không trọn cẩn phòng như té cây, bị xe cán, tại mình đem thân vào nơi nguy hiểm (rừng núi, biển sông), như bị hùm tha, sấu nuốt, tại mình gây thù, kết dữ với người, như bị chết đâm, chết chém, v.v…

Nếu ra đường biết quan phòng sau trước, thì có đâu đến cho xe cán? Nếu mình không leo cây thì thế nào té cây đặng? Kẻ không biết đề phòng cẩn thận, có rủi ro lại đổ cho mạng số thì rất sai lầm. Cho nên, thầy Mạnh Tử có nói rằng: “Thị tri mạng giả, bất lập nham tường chi hạ”. Nghĩa là: “Kẻ biết mạng mình thì không khi nào dám đứng dưới vách tường hầu đổ”.

Nếu mình không lên rừng, xuống biển, thì thế nào bị hùm tha, sấu nuốt? Tại mình chuyên lấy nghề nguy hiểm thì chác lấy nguy hiểm đã đành, nếu đổ cho mạng số thì rất sai lầm lắm đó. Cho nên Đức Khổng Tử có nói rằng: “Bạo hổ, bằng hà tử nhi vô hối”. Nghĩa là: “Bắt cọp, lội sông, chết không đáng tiếc”.

Không gây thù kết oán với ai, không cướp giựt của ai, có lẽ nào mình lại bị chết đâm, chết chém? Đức Thái Thượng có nói: “Họa phước vô môn, duy nhơn tự triệu”. Nghĩa là: “Họa phước không nhứt định cửa nào, tại mình dời mới đến”. Thầy Mạnh Tử lại nói: “Trất cốc nhi tử, phi chánh mạng dã”. Nghĩa là: “Chết vì trăng cùm là không phải tại nơi mạng chánh vậy”.

Tóm lại, làm người phải tin có số mạng, song chẳng nên tin thái quá mà phải sai lầm, nếu mỗi việc chi cứ đổ cho mạng số rồi chẳng hết sức lo, thì thiệt hại cho mình lắm. Phàm việc gì mình rán hết sức mà làm không đặng thì mới đổ cho là mạng số. Cho nên có câu: “Tận nhơn lực, dĩ tri Thiên mạng”.

Vả lại, Trời định số cho ta là do nơi căn quả tiền kiếp của ta. Ấy là cơ báo ứng thiên nhiên, chớ chẳng phải Trời thương ai mà định cho số mạng giàu sang, chẳng phải Trời ghét ai mà định cho căn phần bần tiện. Đã biết rằng Trời định mạng cho ta, song có khi ta cũng sửa đặng vậy. Cho nên mới có câu: “Tạo mạng giả Thiên, lập mạng giả ngã”. Nghĩa là: “Định số mạng là Trời, sửa số mạng là ta”.

Làm sao gọi là lập mạng?

Tỉ như mạng ta nghèo khổ, mà ta cứ tu nhơn tích đức, thì ta chuộc được tội lỗi tiền khiên, rồi Trời cũng xót thương mà sửa số mạng ta lại khá được.

Còn kẻ có số mạng giàu sang mà tham lam tàn bạo, thì phải bị Trời giảm phước mà mang điều tai họa. Lẽ báo ứng ấy chỉ trong chóng chầy mà thôi, chớ không chạy đâu cho khỏi. Vì vậy mới có câu: “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai trì”. Nghĩa là: “Họa phước cuối cùng đều có trả, chỉ trong hai lẽ chóng cùng chầy”. Lại có câu: “Vi thiện giả Thiên báo chi dĩ phước, vi bất thiện giả Thiên báo chi dĩ họa”. Nghĩa là: “Người làm lành, Trời ban phước, kẻ làm dữ Trời xuống họa”.

(*1) Tuy sự khổ cùng là hình phạt, song cũng nhờ đó mà con người đào luyện linh hồn. Nhờ khổ cùng mới biết đủ mùi cay đắng, có khó mới có khôn, có khôn linh hồn mới trong nhẹ. (Xin xem qua chương giải về khổ hạnh).

(*2) Tử tiết như là gặp điều sở bức, tôi liều thác đặng giữ trung với chúa, gái liều thác để trọn tiết với chồng.

(*3) Chết về rủi ro mà chẳng phải lỗi nơi mình, thì có lẽ mới đổ cho mạng số được, tỉ như bị giết lầm, bị cây ngã đè chết, v.v. …



Viết bình luận...