Tu hành chia nhiều bực: Có người tuy đã nhập môn cầu Đạo rồi, chớ cũng lo bề ấm lạnh làm ăn như thường, song phải giữ theo luật Đạo mà trau giồi đức hạnh. Ấy là kẻ giữ Đạo mà thôi, còn đứng vào bực hạ thừa.
Còn người nào thiệt gọi là tu, thì phải phế hết nhơn tình thế sự, trường trai giữ giới mới đứng vào bực thượng thừa.
Đến địa vị người tu rồi, cần phải đem mình vào nơi khổ hạnh, nhiều khổ hạnh chừng nào, thì công quả càng cao chừng nấy, mà hễ công quả càng cao bao nhiêu, thì phẩm vị sau rồi lại rỡ ràng bấy nhiêu. Tỉ như một khúc cây đem ra chạm trổ: Hễ khúc cây chịu đẽo đục chừng nào thì nét chạm trổ lại nổi cao chừng nấy. Khổ hạnh là một viên đá thử vàng. Mà vàng đây là gì? Tức là đạo đức. Kẻ khổ hạnh mà lòng chẳng đổi dời, cứ khư khư dạ sắt gan đồng, không than thân trách phận, cứ vui đạo an nghèo, kẻ ấy mới đáng làm tôi Thượng Đế.
Sự khổ hạnh cũng là một phương châm tuyệt diệu để cự đương với tình dục. Người thường cam khổ hạnh không còn luyến đến việc trần, tâm tục diệt lần thì lửa lòng phải dập. Tỉ thí: Muốn cho thịt tươi để lâu khỏi thúi, ta cần phải muối đi, còn muốn cho linh hồn khỏi nhiễm điều tình dục, ta cần phải cam khổ hạnh. Khổ hạnh là muối để ướp cho linh hồn khỏi hôi thúi vậy.
Sách có câu: “Xả thân cầu đạo, xả phú cầu bần”. Nghĩa là: “Bỏ thân để cầu mối đạo, bỏ giàu để cầu nghèo khổ”.
Bỏ thân là sao và tại sao mà bỏ đi?
Bỏ thân nghĩa là không kể đến thân phàm mình nữa, vì nó là xác thịt không hay bền bỉ. Nhưng chớ lầm tưởng rằng xả thân là phải đem thân ra mà hủy hoại cho mau tiêu diệt, hoặc dùng cách ép xác (như tịch cốc) cho hình vóc hao gầy. Nghĩ vậy rất sai lầm, là vì muốn tận tâm hành đạo, ta cần phải giữ gìn thân hình cho tráng kiện mới có thể gánh vác điều cực nhọc. Đó là điều cần yếu để bảo tồn sự sống, có sống rồi mới có thế tu hành được.
Thế thì phải làm sao gọi là xả thân?
Xả thân nghĩa là:
1/. Thân hình chẳng nên trau chuốt, như gọt chơn mày, cạo lông mặt cho sắc xảo, hớt tóc sửa râu cho vén khéo, xông hương ướp xạ cho thơm tho. Cách trang điểm ấy chẳng qua là phương chưng diện của kẻ thường tình tục thế để cầu huê mỹ mà chác chuộng mua yêu. Nói thế chắc có người phản đối rằng: “Để tóc râu cho u xù làm sao giữ sạch được? Mà nếu không giữ sạch thì thế nào cho tráng kiện?”
Tôi xin đáp: “Sự tráng kiện cốt do nơi người biết cùng không biết giữ vệ sanh đó thôi. Tóc dài râu rậm mà năng tắm gội thì lo chi không sạch. Chớ như cạo râu hớt tóc mà một tháng chưa tắm gội một lần thì trông gì sạch đặng?”
Thơm tho về tinh thần, danh giá mới được trường tồn. Kìa như ông Nguyễn Hiền, ông Trạng Trình, vân vân, là bực tài ba xuất chúng, đã trải bao tuế nguyệt tinh sương mà danh thơm hãy còn ràng ràng trong thanh sử, nọ như bà Triệu Ẩu, bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, ông Trần Hưng Đạo, quan Tả quân Lê Văn Duyệt, vân vân, đã mấy phen thỏ lặn, ác tà, mà nơi linh tự hãy còn khói hương nghi ngút.
Cái thơm tho về xạ ướp hương xông chẳng qua là lợi dụng bề ngoài, chỉ mượn hương vị ướp tẩm vào mình, cầu thơm trong giây giờ rồi hết, tức là điều giả dối vậy.
2/. Thân chẳng cần mặc áo lụa quần hàng để lòa mắt chúng, để mê mặt người. Kẻ tu hành cần chi việc ấy? Quần vải áo bô, miễn cho sạch sẽ và kín đáo là đủ che thân ấm cật, đã vẹn bề tiết kiệm lại phải đạo tu hành. Ấy là xả thân cầu đạo.
Cho nên trong Tân Luật, chương thứ hai, điều lệ thứ 15, buộc bực thượng thừa phải để râu tóc, mặc toàn đồ bô vải.
Xả phú cầu bần là sao?
Chúa Cứu Thế (Jésus Christ) có dạy rằng: “Nếu con muốn đặng hoàn toàn, hãy bán hết gia tài rồi phân phát cho người nghèo khổ”. (Si vous voulez être parfait, allez, vendez tout ce que vous avez, et distribuez-le aux pauvres.)
Lời châu ngọc ấy đáng cho ta bái phục. Vì tiền bạc hay xui giục người vào nẻo quấy đường tà. Kẻ có của thường dễ sa vào bốn vách (tửu, sắc, tài, khí) rồi miệt mài trong cuộc truy hoan mà quên bề đạo đức. Chi bằng mình tự ép mình vào cảnh khổ nghèo thì tránh xa mấy điều tội lỗi ấy được.
Ta có chắc phế hết của tiền mà cầu đạo được chăng? Hễ quyết chí thì được chẳng sai. Tỉ thí như mình gởi tiền phương xa mua vật chi quí báu, tuy chưa gởi đến chớ tự mình chắc rằng mình đã có vật ấy rồi, vì mình đã xuất tiền mua lấy.
Nếu mình phế hết tiền để yêu cầu mối đạo, tuy nhiên mình chưa đắc đạo, chớ tự mình đã chắc trước rồi, vì tự mình đã xuất tiền mà cầu vậy.
Vả lại, Đấng Tạo Hóa cho mình nghèo khổ là muốn cho mình dễ tránh tội tình tục thế. Tạo Hóa cho mình hèn hạ là muốn cho mình khỏi truyền nhiễm đến cuộc giả lợi dối danh. Nên chi, cái khổ hạnh là cái quí báu cho người làm đạo, sợ khổ hạnh là chưa biết đạo vậy.
Luận đến đây, tôi bắt nhớ đến sự tích ông Chung Ly Quyền đời Hớn, trước buổi Ngài đăng Tiên. Sự tích sơ lược như vầy:
Ông Chung Ly Quyền là tướng đại tài đời Hớn. Ngày kia đánh đuổi binh giặc. Lý Thiết Quả Tiên Ông thấy vậy than rằng: “Chung Ly vốn có căn tu, nếu để va trọn thắng, về trại được gia tăng quyền tước, chi cho khỏi sa mê danh lợi mà chẳng khứng tu hành. Chi bằng phá va thất trận cho ngã lòng thì mới dễ bề độ rỗi”. Đoạn Ngài mới đốt trại Chung Ly để giúp cho nghịch binh thủ thắng. Nhờ vậy mà ông Chung Ly ngã lòng về thế sự, an thân tu luyện, sau đắc đạo gọi là Hớn Chung Ly.
Sự tích nầy là phương thuốc giải lòng cho chư đạo hữu nào thường mắc phải hồi lao đao lận đận.
Còn ông Tào Hữu, vốn là một vị Quốc Cựu Tống trào, Ngài chán ngán việc trần, bèn xuất hết gia sản bố thí cho dân nghèo, ly gia, cát ái, lên núi tu trì, sau rồi cũng đắc đạo. Nếu Ngài tiếc của thương nhà, thì thế nào đăng Tiên cho đặng?
CHUNG
ĐỨC TIN
Soạn giả THUẦN ĐỨC
In tại nhà in TAM THANH
108-110, PLACE MARÉCHAL FOUCH. DAKAO-SAIGON 1928
Thánh Thất New South Wales – Australia
Tái ấn hành năm Quí Mùi 2003
Tài liệu biếu không.