Thánh Ngôn Sưu Tập – Quyển II

THI VĂN SƯU TẬP


Từ năm Ất Hợi đến Tân Tỵ (1935 – 1941)

Ngày 25-1-Ất Hợi (dl 28-2-1935). Phò loan : Hộ Pháp – Tiếp Đạo.

TÔN TẪN (Liễu Nhứt Chơn)

Thiên Thai văng vẳng tiếng tri âm,
Đạp máy Âm Dương đến cõi phàm.
Lược sách binh thư dâng bửu bối,
Bao trùm hậu khí giúp nhà Nam.
*
Địa hoàn biến chuyển đổi dư đồ,
Diệt tận văn minh của đạo Tô.
Phân đảnh Á Âu chia Bắc hải,
Lập triều Anh Mỹ đóng Tây đô.
Hoàng quyền nghiêng ngửa chia dân quốc,
Đế Pháp chơi vơi thống bạch cờ.
Thành bại một trường lưu huyết trận,
Thừa nguy Việt mới định xa thơ.

Ngày mùng 8-8-Ất Hợi (dl 5-9-1935).

TỨ NƯƠNG

Nỗi niềm ai ghẹo cho đau,
Tình thương coi lại như màu mây tan.
Bởi rẽ bạn với ai than vãn,
Ngó trăng thu thêm ngán ngày qua.
Nơi Thanh cung hỏi Hằng Nga,
Vì ai ngọc đổ châu sa bấy chừ.
Đây chẳng lẽ làm khuây chẳng tưởng,
Tại nơi ai mà vướng dây oan.
Đã vô trong cõi trần hoàn,
Ăn cay nuốt đắng, cơ hàn nuôi thân.
Phải coi lấy tinh thần là trọng,
Đừng vấn vương theo bóng trời mai.
Chia phui một vẻ cảnh đài,
Công linh buổi trước chia tay nặng lời.
Lời đã dặn có Trời nối gót,
Lập ngôi Thiên rưới giọt từ bi.
Oan gia thuở trước còn ghi,
Cái ngôi vô cực mấy khi đặng toàn.
Vinh hiển để danh truyền kiếp kiếp,
Lời đinh ninh đã hiệp nên hình.
Cớ sao chẳng giải thất tình,
Một phen lửa dậy, chẳng nhìn cao ngôi.
Vì thương mới nặng lời phiền trách,
Xử sao cho trong sạch nợ đời.
Phận cam lãnh tiếng con Trời,
Thương yêu sanh chúng để lời khuyên răn.
Đừng giận lẫy cằn rằn tính bỏ,
Các nguyên nhân hỏi ngõ cùng ai.
Thương đời ngậm đắng trêu cay,
Càn Khôn còn rộng có ngày nên danh.
Danh đừng giựt đừng giành hạnh thế,
Cả huyền linh há dễ hai ngôi.
Tự nhiên gầy dựng nên đời,
Chúng sanh thấy rõ mặt người nguơn công.
Thành thời thế lòng nên định thế,
Phải ráng xem cạn lẽ hư nên.
Thiên điều đã chép nhiều tên,
Gắng công chờ đợi ơn trên định phần.
Đạo đã chịu lắm lần trắc trở,
Lẽ thiêng liêng hai lẽ định phân.
Dìu dân có ngọn bút thần,
Mình nên mình hiểu khá cần đua tranh.
Đợi ngày đoạt công thành danh toại,
Mới tỏ tường trái phải Thiên cơ.
Sự chi cũng có định giờ.

Nghe và ghi nhớ lời của em, Nhị Ca nghe. Em nhượng bút.

NGŨ NƯƠNG

Khá tua ẩn nhẫn mà chờ lịnh trên.
Đã có sẵn một quyền bỉnh chánh,
Cứ phận mình lại nạnh chi ai.
Kìa xem lấy Hiệp Thiên Đài,
Trí nên đáng trí, nói tài tài cao.
Đây có lắm anh hào rắp đến,
Lập cho thành mệnh lệnh Tam Tòa.
Vàng thau rõ mặt chánh tà,
Quyền xưa định Phật với ma khác đường.
Nơi Ngọc Hư còn đang định án,
Chiếu chỉ phân cho hãn tội tình.
Đã không tuân luật hữu hình,
Vô vi trừng trị ai binh đặng nào.
Thương Chí Tôn lòng đau than thở,
Lo liệu phương day trở cơ đời.
Thế đương biến cuộc đổi dời,
Lấy khuôn khảo tội cho người ăn năn.
Xưa coi nhẹ lời răn đạo đức,
Nay cam tâm ngậm ức nuốt oan.
Trừ hung mở cuộc dấy loàn,
Kẻ không nhìn Đạo nhập đoàn yêu tinh.
Giặc tứ hướng đao binh khởi động,
Dấy can qua các giống giết nhau.
Làm cho mặt đất đổi màu,
Trở day cơ tạo đem vào khuôn linh.
Gầy cho đặng anh linh các Đấng,
Lập ngôi Thiên cho xứng công tu.
Khá nên quyết sách vận trù,
Nền Nam có lúc vong xu mãn phần.
Ấy là lúc Đạo nương thổ võ,
Làm trời Nam cho rõ nước Trời.
Chí công gắng sức độ đời,
Nước Nam có thuở đổi dời nêu tên.
Vậy giục bớt lửa phiền trong dạ,
Nên nghiêng vai cõng cả nhơn sanh.
Máy linh kia đã sẵn dành,
Công cao ắt đặng ngôi đành nên cao.

Em xin nhượng bút.

LỤC NƯƠNG

Công cao thì phận ắt gian truân,
Mượn tấm yêu thương chở khách trần.
Lãnh phước khá toan chan rưới phước,
Làm cho sanh chúng hưởng Thiên ân.

THẤT NƯƠNG

Thiên ân định có phần cao thấp,
Cao nên cao khó thấp đặng nào,
Sẵn tay làm lặng ba đào,
Đưa thuyền Bát Nhã lần vào cảnh xuân.
Đợi sẽ thấy oai thần giúp sức,
Đặng xây nên mỹ lệ đài mây.
Quyền trên đã sẵn có Thầy,
Mấy anh cần biết cho hay phép đời.
Đời càng khó cơ đời trọng giá,
Tay cầm nên nghiệp cả Đạo nhà.
Chờ gió lặng đám mây qua,
Biển mê trương cánh buồm ra cõi ngoài.
Có lắm kẻ hằng ngày trông ngóng,
Như trời thu đợi bóng mưa qua.
Kìa nhơn sanh với sơn hà,
Phân ra khinh trọng mới là trí cao.
Đừng sợ nhục đừng nao khó nhọc,
Gần thành công đặng lọc lừa danh.
Thiên thơ trước đã định rành,
Nên hư nền Đạo đã đành nơi tay.
Tòa Tam Giáo có ngày định lập,
Quyền phân minh đẳng cấp chánh truyền.
Cửu Trùng lại với Hiệp Thiên,
Từ đây đáng hiệp cho nên một quyền.
Đừng cố giữ nỗi phiền buổi nọ,
Phải tận tâm hiệp ngõ chọn hiền.
Dầu chi cũng kẻ một thuyền,
Thấy nhau có thẹn chớ nên để lòng.
Làm cho rõ mặt anh phong.

Em xin nhượng bút.

BÁT NƯƠNG

Vô tư nẻø nét lấy công trị người.
Người ta kế cấp bấy nhiêu người,
Lánh đứa gian tà đến dựa hơi.
Cần quốc muốn nên trừ lũ nịnh,
Yêu dân toan dạy lựa nên lời.
Xa thơ mòn bánh vì đường lở,
Xã tắc chinh ngôi bởi phép đời.
Rộng thứ không bằng toan dạy trước,
Răn he đừng đợi ngọn gươm quơi.
*
Quơi bồ tiền mượn quyền thị nhục,
Cải tai ương ra phúc vĩnh tồn.
Trường công mở phép độ hồn,
Đứa ngu đem dựa, đứa khôn học đòi.
Đừng chê bỏ ra mòi rẻ rúng,
Con dao hay làm lụng dễ dàng.
Miễn đừng để lưỡi nằm ngang,
Phải suông mà phạm đứa gian hại đời.
Hễ trái hẳn con ngươi đừng nhắm,
Mở mắt linh xem lặng vào lòng.
Phá tan cái lũ con ong,
Loạn ly đem thế nhập trong Thánh Tòa.
Diệt cho sạch xác ma thịt quỉ,
Trừ những phường hồ mị cầu danh.
Đưa cây Ma xử nên linh,
Trừ an nội loạn mới thành Thiên cơ.
Hòa với kẻ kỉnh thờ Tam Giáo,
Gieo lòng tin giáo đạo mọi nơi.
Khá nên làm việc cẩn lời,
Nên chăng cũng có cơ Trời quyền năng.
Khá kiếm thế đặng gần chánh phủ,
Tìm biết danh trọn lũ gian manh.
Đưa dung kẻ nghịch ngọn ngành,
Hành vi của Đạo nỡ đành đem buôn.
Lánh những kẻ làm tuồng mến Đạo,
Mua thân danh mượn máu trung thành.
Xa phường trục lợi xu danh,
Kiếm phương tà mị dỗ dành đứa ngu.
Nếu làm đặng Đường Ngu nào khác,
Dạy dân đen chẳng phạt ngục hình.
Trở kim ra cổ như in,
Thuấn Nghiêu nào biết dụng binh dẹp loàn.
Nếu có kẻ an bang tế thế,
Quì mà nghinh lấy lễ trọng người.
Cổi thân ra mảnh áo tơi,
Che mưa đỡ nắng cho đời nguy nan.
Sửa cơ Tạo ra sang mới vẹn,
Lấy từ bi vun quén cây nhơn.
Đừng ham gây oán chuốt hờn,
Phải hơn đạo đức chớ hơn tài tình.
Trước sau sẵn một khuôn linh.

THĂNG.

NHÀN ÂM ĐẠO TRƯỞNG

Gánh đời đã tự cất lên vai,
Trau chuốt cho sao đủ trí tài.
Tấn thối dè chừng mưu kế hiểm,
Thiệt hư nhìn nhận chước phương hay.
Dụng quyền hơn đức, quyền tan nát,
Tạo thế kém nhân, thế đọa đày.
Ví biết giống nòi đang thống khổ,
Trở đương cho vẹn phận làm trai.
*
Non sông muốn gánh phải lo tròn,
Giữa biển khơi lắt lẻo chiếc thuyền con,
Cơn sóng gió liệu cho còn hay để mất.
Khóc nước loạn rừng hôm con quốc quốc,
Máu thành sông thây chất ví non cao.
Kiếp ngựa trâu Việt chủng vận kêu gào,
Đá tinh vệ chừ bao cho lấp bể.
Vận hội đến đã xây thời thế,
Bởi hung tàn mà chưa dễ thoát lệ nô.
Bốn ngàn năm một gánh cơ đồ,
Chia rẽ mãi mà điểm tô không kịp bước.
Đời lấn Đạo, Đời xa cội phước,
Đạo dìu Đời, vận nước mới an.
Đức lập Quyền, dân được châu toàn,
Quyền lập Đức, nhơn gian thống khổ.
Lấy chí Thánh dìu đời giác ngộ,
Dụng bạo tàn đâu phải chỗ an bang.
Trị theo đời mà dân chúng vẫn lầm than,
Đó là dìu chúng đến con đàng tự diệt.
Do bốn chữ : Minh, Cang, Liêm, Khiết,
Đạo hay đời trăm việc cũng thành.
Gắng đề phòng bả lợi đua tranh,
Cầm hạc giữ đạm thanh khi sớm tối.
Chẫm rãi bước đường xa chớ vội,
Góp ý hay mở lối cang thường.
Thương đời cho trọn chữ thương !

THI :

Thánh tâm một khối tượng nên hình,
Đã hiệp Vạn linh với Chí Linh.
Riêu phướn từ bi tiêu loạn lạc,
Soi gương bác ái lập hòa bình.
Chiêu an tả đạo, trừ tà khí,
Độ tận quần sanh, chiếu cứu tinh.
Mở mắt thiên lương dìu chủng tộc,
Nghĩa nhân âu đổi lấy nhơn tình.
Lý Giáo Tông

THI :

Hồng Lạc gặp thời vỗ cánh bay,
Tuôn mây lướt gió chẳng ai tài.
Nghìn thu tên tuổi còn noi dấu,
Khí tượng anh hùng há một mai.
Đất Việt lẫy lừng danh Đại Đạo,
Trời Nam tỏ rạng tiếng Cao Đài.
Có chi vui bẵng ngày tương hội,
Chúa Thánh tôi hiền phỉ chí thay !
Phan Sào Nam (24-11-Ất Dậu, 1945)


Hết Quyển II


Viết bình luận...