ÐẠI ÐẠO CĂN NGUYÊN

THƯỢNG ĐẾ THÂU PHỤC MẤY VỊ PHÒ LOAN


Ông Cao Quỳnh Cư người gốc ở Tây ninh, xuống làm việc tại sở Hỏa xa Saigon. Ông mướn phố ở đường Bourdais. Ông có một người vừa là đồng hương vừa là bạn thiết, là ông Phạm Công Tắc nguyên làm việc tại sở Thương Chánh Saigon, và một người cháu là ông Cao Hoài Sang cũng làm việc tại sở Thương Chánh. Ba người nầy thân thiết với nhau lắm, đêm nào cũng hiệp nhau một chỗ, khi đờn địch, lúc ngâm thi, tiêu diêu với thú phong lưu tài tử. Lối tháng sáu năm Ất Sửu (1925), ba người lại bắt đầu tập xây bàn chơi. Ban đầu tính cầu thử một vị thi hữu quá vãng là ông Huỳnh Thiên Kiều tự Quí Cao. Quả nhiên vị ấy đến, chào hỏi nhau, nhắc sơ đến tình cố hữu, rồi gõ bàn cho một bài thi như vầy:

“Nhắn nhủ mấy anh một ít lời,
Làn mây hồn trẻ đã xa chơi.
Mẹ già nỗi hiếu chưa rồi đạo,
Vợ yếu niềm duyên chẳng trọn đời.
Chạnh nhớ quê xưa lòng xót xáy,
Buồn trông làng cũ mắt chơi vơi.
Ai về gởi lại tình sông núi,
Kiếp khác ơn sinh sẽ đắp bồi”.

Ông Nguyễn Trung Hậu tự Thuần Đức nguyên trước là bạn thi hữu với ông Huỳnh Quí Cao, được nghe tin ấy, bèn đến nhà ông Cao Quỳnh Cư mà xin ông xây bàn để thỉnh ông Quí Cao về chơi. Ông Cư, ông Tắc, ông Sang đem bàn ra, thắp nhang vái ông Quí Cao, rồi xúm nhau để tay lên bàn, còn ông Hậu thì cầm giấy viết sẵn để chép. Cách chừng 15 phút đồng hồ, thì có ông Quí Cao về nhập bàn, cho một bài thi tứ tuyệt như vầy:

Âm Dương tuy cách cũng chung Trời,
Sinh tịch đời người có bấy thôi.
Chén rượu đồng tâm nghiêng ngửa đổ,
Thương nhau nhắn nhủ một đôi lời.

Thấy vậy, ông Hậu cũng còn nửa tin, nửa nghi, ông bèn nói rằng: “Tôi sẵn có làm một bài thi đem theo đây, xin đọc cho anh nghe và xin anh họa lại chơi cho vui”. Ông Quí Cao bèn gõ bàn hai cái, nghĩa là ưng chịu. Bài thi ông Hậu như vầy:

Mấy năm vùng vẫy cũng tay không,
Nào khác chiêm bao một giấc nồng.
Cữ nắng tuần mưa dày dạn mặt,
Mồi danh bả lợi ngẩn ngơ lòng.
Ngày qua thỏn mỏn xuân thu dập,
Gương rạng phui pha cát bụi lồng.
Chừ gặp cố nhân lời ướm hỏi,
Hỏi ra cho biết nẻo cùng thông.

Ông Quí Cao liền gõ bàn họa lại một mạch, không ngập ngừng chút nào cả. Bài họa như vầy:

Một tiếng u minh gióng cửa không,
Phồn ba giục tỉnh giấc đương nồng.
Ngồi thuyền Bát nhã qua tình biển,
Mượn nước nhành dương rưới lửa lòng.
Cuộc thế lạnh lùng lằn gió lọt,
Đường đời ngán ngẫm bụi trần lồng.
Kiếp tu xưa tiếc chưa nên đạo,
Oan trái phủi rồi phép Phật thông.

Sau lần lần có nhiều vị thiêng liêng khác nhập bàn. Mỗi lần đều có xướng họa thi chương, chỉ cách làm văn, thích nghĩa truyện Kiều, và dạy dỗ về đường đạo đức. Trong mấy Đấng thiêng liêng ấy, lại có một vị xưng là “A à ”. Bắt đầu hết, Ngài phán rằng: “Muốn cho Bần Đạo đến thường, xin chư vị nạp lấy mấy lời yêu cầu của Bần Đạo như sau đây: Một là đừng kiếm mà biết Bần Đạo là ai; hai là đừng hỏi đến quốc sự; ba là đừng hỏi đến Thiên cơ”. Mấy ông xây bàn đều hứa giữ theo mấy điều ấy. Từ đây sự giao thiệp của người khuất mặt với kẻ dương gian càng ngày càng thêm mật thiết, không đêm nào là không xây bàn cầu thỉnh. Một hôm có ông Phạm Minh Kiên và ông Lê Thế Vĩnh vốn là người viết báo, đến viếng ông Cao Quỳnh Cư đương buổi Đức “A à ” về bàn, ông Cư bèn xin Ngài cho mỗi người khách một bài thi để làm kỷ niệm. Đức “A à ” đáp: “Để Bần Đạo cho chung hai người một bài thi mà thôi”. Ai nấy đều lấy làm lạ nghĩ vì tâm sự mỗi người mỗi khác, hai người mà chung một bài thi thì thế nào được. Đức “A à ” gõ bàn cho một bài thi tứ tuyệt như vầy:

Một viết với thân giữa diễn đàn,
Bằng xua trước giặc vạn binh lang.
Đạo đời ví biết đời là trọng,
Dạy dỗ sao cho đặng mở mang.

Ai nấy đều khen bài thi chỉ có bốn câu mà gồm đủ bộ vận hai nhà làm báo.

Một hôm khác, ông Hậu bạch cùng Đức “A à ” như vầy: “Tôi còn nhớ hai câu đối thuở nay chưa ai đối được. Xin đem ra cho Ngài đối chơi”. Đức “A à ” bèn đáp: “Bần Đạo xin hầu đối, nhưng nếu đối ra không chững, quí vị chớ cười và niệm tình Bần Đạo mà chấn chỉnh lại cho”.

Câu đối ông Hậu ra: “Ngồi trên ngựa đừng bò con nghé!”

Đức “A à ” đối lại: “Cỡi lưng trâu chớ khỉ thằng tê!”

Câu đối ông Hậu ra: “Ngựa chạy mang lạc”.

Đức “A à ” đối lại: “Cò bay le bè”.

Từ đây ông Hậu mới phục tài Đức “A à ” và hết lòng tin tưởng có người khuất mặt. Không bao lâu, người đến hầu đàn tại nhà ông Cao Quỳnh Cư càng ngày, càng đông; trong ấy có ông Trương Hữu Đức, làm việc ở sở Hỏa xa, và ông Bồng Dinh, tục kêu là Giáo Sỏi làm việc tại dinh Hiệp lý Saigon.

Một hôm khác, ông Bồng Dinh bạch cùng Đức “A à ” rằng: “Trong Kiều có câu: Sửa san níp tử, xe châu, Vùi nông một nắm mặc dầu cỏ hoa. Chẳng hay níp tử, xe châu là gì, xin Ngài chỉ giáo”.

Đức “A à ” đáp: “Níp Tử là cái rương của thầy Khổng Tử, xe Châu là cái xe của Châu Võ Vương ngồi đi phạt Trụ. Cái rương của Thầy Khổng Tử dùng đựng sách vở, tức là văn chương. Người văn sĩ thác rồi, thì bao nhiêu học thức văn chương cùng theo xác thịt mà chôn vào quan cửu. Nên Nguyễn Du mới dùng hai chữ níp tử để gọi cái quan tài của bực văn chương tài tử là nàng Đạm Tiên. Vua Châu Võ Vương ngồi long xa đi phạt Trụ, tức là gồm thâu giang san nhà Trụ vào đấy. Còn người ở đời làm được bao nhiêu sự nghiệp, khi thác rồi cũng phủi tay không, thì chẳng khác nào bao nhiêu sự nghiệp tự mình gầy dựng ra trong buổi sanh tiền, sau khi nhắm mắt rồi, thảy đều thâu vào trong linh xa vậy. Cho nên Nguyễn Du mới dùng hai chữ xe Châu để gọi cái linh xa của bực tài tình bạc mạng..”

Một hôm khác, ông Cư bàn với các bạn rằng: “Bình sanh tôi lấy làm phục thi văn ông Lý Bạch. Vậy chúng ta cầu thử Ngài coi”.

Đoạn các bạn mới thắp nhang ra giữa trời khấn vái. Quả nhiên có Lý Đại Tiên đến cho một bài thi bát cú như vầy:

Đường trào hạ thế hưởng tam quan,
Chẳng quản công danh, chỉ vị nhàn.
Ly rượu trăm thi lời vẫn nhắc,
Tánh Tiên muôn kiếp vốn chưa tàn.
Một bầu phong nguyệt say ngơ ngáo,
Đầy túi thơ văn đổ chứa chan.
Bồng Đảo còn mơ ngày bút múa,
Tả tình thế sự, vẽ giang san”.

Đoạn thỉnh ông Đỗ Phủ đến họa vận, Ngài họa như vầy:

Chẳng nể công khanh, bỏ ấn quan,
Bồng Lai riêng thú hưởng thanh nhàn.
Thi Thần vui vịnh ngoài rừng Trước,
Rượu Thánh buồn say dưới cội tàn.
Nắng hạ Trời thương đưa gió quạt,
Nồng thu Đất cảm đổ mưa chan.
Vân du thế giái vui mùi đạo,
Sớm dạo Kỳ san, tối Cẩm san”. (*1)

Từ đây, các bạn “xây bàn” lấy làm đắc chí, vì hễ cầu thỉnh vị Tiên Thánh nào thì được nấy. Ấy là cách Thượng Đế sắp đặt để thâu phục mấy vị phò loan hầu ngày sau chấp cơ truyền Đạo.

Nhưng ông Cư thường than phiền rằng thông công cùng chư Thần Thánh bằng cách xây bàn lấy làm bất tiện, nên vào lối thượng tuần tháng tám, năm Ất Sửu, một vị Tiên Cô xưng là Thất Nương nhập bàn dạy phải kiếm Ngọc Cơ mà dùng. Ông Cư hỏi thăm mượn được cơ của ông ký Tý (cũng ở đường Bourdais) và cậy ông đến nhà chỉ giùm cách chấp cơ thế cho bàn. Từ đây có cơ rồi, mỗi đêm đều có Thần Tiên giáng cơ dạy đạo. Khi ấy, Đức “A à ” mới phân với mấy ông Cư, Tắc, Sang rằng: “Muốn cho Ta tận tâm truyền Đạo, phải kêu Ta bằng Thầy cho tiện bề đối đãi”. Ba ông ấy vui lòng vưng chịu, từ đây giữ nghĩa thầy trò, tình giao thiệp càng thêm mật thiết.

Mãi đến đêm Noel (24 Décembre 1925), Thất Nương giáng cơ truyền phải chỉnh đàn cho nghiêm trang hầu tiếp giá. Nghe vậy, mấy ông Cư, Tắc, Sang nửa mừng, nửa sợ, lật đật sắm đủ hương đăng trà quả, chỉnh đàn cho có nghi tiết, đoạn hai ông Cư, Tắc mới ngồi lại chấp cơ. Cơ giáng như vầy:

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ
VIẾT CAO ĐÀI GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG

“Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền,
Vui lòng tu niệm hưởng ơn Thiên.
Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên”.

Đêm nay phải vui mầng vì là ngày Ta đã xuống trần dạy Đạo bên Thái Tây (Europe). Ta rất vui lòng mà đặng thấy chư đệ tử kính mến Ta như vậy. Nhà nầy sẽ đầy ơn Ta. (*2) Ta sẽ làm cho thấy huyền diệu đặng kính mến Ta hơn nữa”.

Đức Cao Đài lại phán rằng: “Bấy lâu Thầy vẫn tá danh “A à ” là cốt để dìu dắt các con vào đường đạo đức, hầu chẳng bao lâu đây các con phải ra giúp Thầy mà khai Đạo. Các con có thấy Thầy khiêm nhượng là dường nào chưa? Các con nên bắt chước Thầy trong mảy mún thì mới xứng đáng là người đạo đức”.

Đến đêm 1er Janvier 1926, có một người phụ nữ bên Đạo Thiên Chúa đến nhà ông Cao Quỳnh Cư mà phân như vầy: “Xin cho tôi để thử trên bàn cầu cơ hình Đức Chúa Giê Giu và một cây Thánh Giá. Nếu Đức Cao Đài là Thượng Đế thiệt, thì mới giáng cơ được, bằng là Quỉ Vương, thấy hai vật báu ấy tự nhiên phải tránh”.

Ông Cư bằng lòng cho thử, đoạn cùng ông Tắc ngồi lại cầu cơ. Đức Cao Đài giáng cơ như vầy:

“Các con hiểu Jésus là ai chăng? Trước Ta đổ máu cho loài người vì thương yêu. Nay ta đến cứu loài người cũng vì thương yêu. Bây đủ thương yêu Ta dường ấy chăng? Ta cầu bây biết ăn năn. Ta trông thấy bây biết ăn năn hầu cứu chữa bây”.

Từ đây mấy ông Cư, Tắc, Sang, Hậu, Đức đều hết lòng thờ phượng tin tưởng Đức Cao Đài và lo dưỡng tánh tu tâm để chuyên bề đạo đức.

(*1) Phụ ghi: Trong TNHT bài thơ ấy như sau: Chẳng kể công khanh bỏ ấn quan, Bồng lai vui Đạo hưởng thanh nhàn. Thi Thần vui hứng ngoài rừng Trước, Rượu Thánh buồn say dưới cội tàn. Nồng hạ Trời thương đưa gió quạt, Nắng thu Đất cảm đổ mưa chan. Vân du thế giái vui mùi đạo, Mơi viếng Kỳ san, tối Cẩm san.

(*2) Phụ ghi: Trong TNHT có thêm câu: “Giờ ngày gần đến đợi lịnh nơi Ta”.



Viết bình luận...