Hồi Ký Chết Đi Sống Lại

HỒI KÝ CỦA BÀ HÀNH THIỆN TRẦN THỊ SƯƠNG


Kính thưa Quý Hiền Huynh, Hiền Tỷ!

Tôi xin kể lại cùng quý Hiền Huynh, Hiền Tỷ: Một câu chuyện mà hơn một năm qua tôi chưa hề bộc lộ với ai ngoài thân nhân của tôi, đó là chuyện tôi chết đi và sống lại.

Kính quý vị!

Đáng lẽ tôi không nên thuật lại, vì chuyện của cá nhân, nhưng xét thấy đây là một việc có ích lợi chung về mặt tinh thần của Đạo, tưởng cũng cần nói lên để góp phần vào xây dựng Đại Nghiệp.

Trước khi thuật lại câu chuyện này, với tấm lòng chân thật, tôi xin phép sơ lược về quá khứ của tôi. Tôi mở mắt chào đời vào năm 1924 tại Hội An, Sa Đéc, trong gia đình theo Tôn Giáo Cao Đài, khi được 8 tuổi song thân cho tôi đến trường học Quốc Ngữ và Hán Tự. Trong thời gian nầy, tôi cũng bắt đầu tập làm Đồng Nhi, lần lần lớn lên, tôi được tham gia vào việc Đạo là thơ ký Bàn Tri Sự tại Hương Đạo Đông Hòa, Rạch Giá. Đến năm Kỷ Hợi (1959) tôi có thiết lập Hồ Sơ cầu phong Lễ Sanh. Nhưng sau đó vì gia cảnh, tôi xin qua Cơ Quan Phước Thiện lập công để gần với gia đình trong lúc cha già bịnh yếu. Tôi về Tòa Thánh vào năm 1954 và hiện sống tại số nhà A1/1, Ấp Trường Lưu, Xã Trường Hòa, Quận Phú Khương, Tỉnh Tây Ninh.

Công việc Hành Đạo của tôi liên tục kể từ năm Kỷ Hợi (1959) đến nay. Xin nói rõ việc hành Đạo là do sự thúc giục của song thân tôi, chớ lòng tôi lúc nào cũng mơ hồ nghi hoặc; chẳng rõ Tu có ích lợi gì không? Và mỗi khi nhìn lên cõi không trung kia tôi chỉ thấy một khung Trời mênh mông vô tận, chứ tôi hoàn toàn không tin có những gì khác hơn ngoài những sự vật mà giác quan có thể tiếp nhận được. Tóm lại, tôi là người theo Đạo, nhưng hoàn toàn chẳng có đức tin, và sau đây tôi xin vào đề câu chuyện của một người “chết đi sống lại”.

Vào khoảng cuối tháng 6 ÂL, năm Nhâm Tý (1972) tội bị bệnh cảm lạnh, sau đó nhờ thuốc bệnh thuyên giảm. Đến ngày mùng 2 tháng 7 ÂL năm Nhâm Tý (10/8/1972) khoảng 8 giờ tối, đột nhiên cảm thấy trong người khó chịu, tôi vội vào giường nằm, bổng thấy chân tay lạnh dần. Tôi cố gắng gọi người nhà, nhưng hình như không ai nghe tiếng kêu cứu của tôi. Tôi có cảm tưởng máu trong người đặc lại, tim đập loạn, hơi thở nặng nhọc, đầu tê dần, lưỡi cứng lại không còn cử động được nữa, nỗi đau khổ của thể xác trong cơn hấp hối đó, bổng nhiên tôi thấy một vầng sáng tròn đường kính khoảng 2 thước hiện ra trên đầu cũng như chong chóng, có một sợi dây nhỏ màu xám, nối liền vầng sáng đến đỉnh đầu tôi, vầng sáng càng quay nhanh tôi càng mệt, hơi thở gần như đứt đoạn, vầng sáng và sợi dây bổng biến mất, tự nhiên tôi thấy khỏe lại, liền đứng dậy nhẹ nhàng, ngó thấy xác mình đang nằm bất động, chừng đó mới biết mình là một Chơn Linh đã xuất ngoại khỏi xác thân, tôi định đi ra đàng trước liền thấy mình đi xuyên qua vách nhà, thấy người nhà tôi nằm ở đi văn. Tôi đến trước bàn thờ ĐỨC CHÍ TÔN bỗng thấy có hai Đấng Thiêng Liêng hào quang lấp lánh hiện ra một ông mặc Đạo phục màu xanh, một ông mặc Đạo phục màu trắng cầm cây Phướng dài, đứng ở sau lưng tôi, lạ một điều là hai Đấng Thiêng Liêng tưởng gì tôi hiểu ngay tức khắc, chứ không nói ra.

Từ lúc Chơn Linh xuất ra khỏi xác cho đến lúc bây giờ, tôi luôn luôn ngữi một mùi hôi thúi khó chịu vô cùng, ấy là trược chất ở cõi trần, tôi nhìn thấu qua tường nhà thấy chung quanh một màu u tối, vô số chơn hồn bị đọa qua lại, than khóc rên la nghe thảm não. Một điều là tôi cảm thấy tất cả đều là huyết nhục của tôi, nên tôi rất đau buồn vì thống khổ của họ, lúc nầy theo lời dạy của Đấng Thiêng Liêng, Chơn linh tôi bay bỗng lên cao một lúc mới hết mùi trược chất, tôi đến một cảnh sáng sủa. Ông cầm Phướng giảng giải cho tôi biết: Đây là cảnh Thiên thai trên cõi trần một bực, tôi thấy khắp nơi nhà cửa, cây cối, y phục con người v.v…, mọi vật giống như ở cõi trần. Tuy nhiên người ở đây cốt cách phong lưu đẹp đẽ, có người già râu dài, nhưng trông sắc diện vẫn còn tươi trẻ, mọi sinh hoạt ở đây đều có vẻ an nhàn và không có tiếng động.

Tôi được hai Đấng Thiêng Liêng dẫn dắt bay lên nữa, tôi thấy một tòa nhà lớn vô cùng gọi là nhà Tịnh diện tích ước chừng 10 mẫu đất, nhìn vào bên trong Chơn Linh thật đông nhưng không có tiếng động, tôi thấy một chỗ sáng rực mỗi Chơn Linh đứng trước chỗ đó nhìn vào đều thấy được tiền nghiệp kiếp sanh của họ; các Chơn Linh ở đây nhìn tôi một cách thống thiết bi lụy, ngoài ra tôi còn thấy các vị Thần mặc đạo phục màu xanh hào quang lấp lánh điều khiển các sinh hoạt nơi đây.

Tôi nghe ông cầm phướng giảng giải: Những Chơn Linh ở nhà Tịnh nầy là những người lúc còn mang xác phàm gây nhiều tội lỗi, khi chết, phải vào đây để tự luận tội xét mình chờ ra Tòa Tam Giáo.

Sau đó bị đọa xuống trần gian chịu vơ vất hàng trăm năm ngữi mùi hôi thúi chờ đến khi nào có con cháu Tu hành lập nhiều công đức với Đời xin được tội tình, họ mới dược ân xá nhập vào cảnh Thiên thai chờ ngày tái kiếp. Theo ngọn phướng của hai Đấng Thiêng Liêng, tôi được bay bổng lên nữa. Qua khỏi nhà Tịnh, thấy một số Chơn linh hoạt động bay qua lại dưới làn không khí, tôi được giảng giải rằng: Các Chơn linh nầy khi mang thể xác trong kiếp sanh đã lập công tạo vị, nhưng họ không ăn được trường trai hoặc ăn chay mà dùng các loại trược như: trứng, tôm, cua, nên khi thoát xác, họ không dám qua làn không khí. Họ cũng có thể dùng sự Thần thông của họ tự giải trược nhưng ít nhứt cũng mấy trăm năm. Mà một ngày nơi đây bằng một năm dưới thế.

Theo ngọn Phướng tôi tiếp tục bay lên nữa đến cảnh giới dẹp đẽ vô cùng, tôi thấy có nhiều Tòa nhà đẹp đẽ, ẩn hiện xa gần nào Đền đài Dinh thự, cây cối v.v… đặc tính của mỗi vật lại hoàn toàn khác lạ hơn cõi trần nầy. Tất cả đều sáng sủa và thanh tịnh, nhiều loại cây màu sắc xinh đẹp, mỗi trái đều lấp lánh hào quang, khi tôi đến gần cây nào, thì cấy ấy nhành lá cử động dường nhu chào đón tôi. Còn Đền đài dinh thự thì đẹp vô cùng, hào quang sáng chói, nóc Đền màu vàng ánh, vách Đền màu xanh dợt nền đậm hơn. Tất cả giống như cẩm thạch, bên trong trang trí vô cùng sang trọng, mỗi nơi một vẻ đẹp lạ lùng, không một Đền đài cung điện Vua Chúa nào ở trần gian nầy có thể sánh bằng. Tôi thấy có nhiều Đấng Thiêng Liêng, trang phục toàn lụa phần nhiều màu xanh, như có kim tuyến lấp lánh, đội mão cánh chuồng hào quang sáng rực Tôi được giảng giải nơi đây không cần ăn mà no, y phục không thay đổi cũng vẫn sạch sẽ. Nhìn lên cao, tôi thấy có nhiều Đấng Thiêng Liêng mặc toàn lụa trắng hào quang sáng chiếu cởi hạc bay qua bay lại rất thung dung. Cảnh trí nơi đây vô cùng xinh đẹp, không bút mực nào tả nỗi, cảnh nầy dầu cho đổi bao nhiêu kiếp sanh ở cõi trần cũng không xứng đáng. Lúc ấy, ông cầm Phướng cho tôi biết: Nơi đây là hàng phẩm Thần còn 08 bực nữa mới tới nơi Thượng Đế ngự. Nhìn lên xa thẳm, tôi thấy một vùng sáng tỏa, tâm tôi tưởng làm thế nào để thấy được Đức Thượng Đế, liền khi ấy Ngài hiện ra giữa muôn đạo hào quang, dầu ở xa nhưng tôi thấy rõ lắm. Ngài mặc toàn trắng sáng chiếu, đội mão Thiên Quang, râu dài bạc với gương mặt vô cùng thanh thoát mang đầy vẻ từ bi, Tôi vội quì xuống lạy Ngài và khóc, vì ân hận đã trọn một kiếp sanh tôi chưa làm nên việc gì trọng đại trên đường phụng sự nhơn sanh. Khi về đến đây tôi lại không có phẩm vị gì cả, đã vậy lúc còn mang xác phàm ở trần gian tội không tin có Thượng Đế, giờ đây trước mặt Ngài tôi ân hận vô cùng về cái phàm trí ngu dốt của tôi. Tôi nghe Ngài nói: “Đừng khóc, cho con được trở lại lập công.”

Nhớ đến mùi trược chất nhứt là ngó xuống nhìn thấy thi hài xác thịt tôi ghê gớm vô cùng, tôi xin ở lại cõi Thiêng Liêng, nhưng tôi nghe Ngài phán: “Công quả của con chưa đủ, con chưa ở lại được, phải trở lại trần gian ráng lập công có Thần Thánh theo giúp”.

Nhìn trở lên tôi thấy Thượng Đế khác hơn, lúc nầy tay trái Ngài cầm một cây gậy sáng chiếu, tay phải Ngài đưa lên, có một lằn sáng trắng trong tay bay thẳng xuống đầu tôi, liền khi ấy đầu tôi sáng rực, tôi cảm thấy thông thái nhẹ nhàng, tôi nghe Ngài nói: “Cho con thông minh để Phổ độ nhơn sanh” và Ngài liền biến mất.

Lúc ấy tâm tôi tưởng, tôi đã hiểu nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ quả thật do THƯỢNG ĐẾ sáng lập, giờ đây tôi muốn thấy rõ những kết quả việc Tu hành của các môn đồ trong nền Đại Đạo, tức thì những hình ảnh trong 47 năm qua của nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đều hiện ra trước mắt tôi. Tôi thấy Đức Q. Giáo Tông Lê Văn Trung hiện là một vị Tiên thứ nhứt, Đức Hộ Pháp là một vị Phật đã có từ lâu trong vũ trụ, còn Đức Ngài PHẠM CÔNG TẮC nay đã trở về Thiêng Liêng đạt đến quả vị CỨU KHỔ PHẬT, tôi còn thấy rất nhiều Chức Sắc, Chức Việc, Đạo Hữu đạt vị đến hàng phẩm Thần, Thánh, Tiên. Trái lại cũng có nhiều Chức Sắc, Chức Việc, Đạo Hữu bị đọa bởi nhiều lý do như: Chức Sắc, Chức Việc đi hành Đạo phạm sắc, phạm tài vật của nhơn sanh, Đạo hữu thất thệ gây tội lỗi nên bị đọa, cũng có nhiều Chức sắc có công nhưng không có vị, bởi lý do đi hành Đạo rất đắc lực được nhơn sanh yêu chuộng, rồi đem tài vật đến giúp cho nhiều nên vô tình lại bị nhơn sanh chia hết công nghiệp. Tuy nhiên những vị nầy không có tội, nhưng không có quả vị. Họ rất đau khổ cho một kiếp sanh may duyên gặp Đạo, nhưng khi về Thiêng Liêng chỉ có hai bàn tay trắng.

Tôi còn thấy một cuốn sổ đề THIÊN TỰ KINH, xin nói rõ, Thiên là Trời, chớ không phải là ngàn, sổ nầy hình chữ nhựt kích thước khoảng 3 tấc x 5 tấc, bìa đỏ dợt, chữ đỏ đậm gần như đen vậy. Quyển THIÊN TỰ KINH nầy ghi chép cả Luật Thiên Điều, có nhiều khoảng như: Luật Định Tội, Phước; và Luật Tam Kỳ Phổ Độ Thất ức niên.

Trong Tam Kỳ Phổ Độ quý nhứt cho nhơn sanh là Luật Đại Ân Xá hạn định, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ sẽ truyền dến Thất ức niên, nhưng thời gian ĐẠI ÂN XÁ CHỈ CÓ KHOẢNG MỘT TRĂM NĂM TRẦN TỤC. Đại ân xá nghĩa là: Nếu lúc trước nhơn sanh có làm tội lỗi gì, dầu lớn hay nhỏ khi đã qui luật lệ của Tam Kỳ Phổ Độ rồi, kể như từ đó đừng phạm nữa, thì sẽ được ân xá tội trước, nếu biết Tu hành lập công bồi đức phụng sự nhơn loại sẽ đạt phẩm vị Thần Thánh Tiên và trọn một kiếp sanh lập được công nghiệp phi thường có thể đạt đến quả vị Phật. Sau khi qua kỳ Đại ân xá nhơn sanh phải chịu trong luật định khác.

Trong THIÊN TỰ KINH cũng có ghi luật lệ Ngũ Giới Cấm cho nhơn sanh làm khuôn mẫu để sửa chữa mình lập công định vị như:

1. Nhứt bất sát sanh
2. Nhị bất du đạo
3. Tam bất tà dâm
4. Tứ bất tửu nhục
5. Ngũ bất vọng ngữ

Đến đây bỗng tôi nghe một tiếng nổ, tôi thấy một Chơn Linh bị sét đánh tiêu diệt. Tôi liền được nghe Đấng Thiêng Liêng cầm Phướng giảng giải: Mỗi nhơn sanh lập thệ vào Tam Kỳ Phổ Độ đều được ghi tên vào Thiên Tự Kinh, phải giữ 10 ngày chay trở lên trường chay, khi thoát xác được làm phép độ thăng, dù có công hay có tội bị đọa cũng vẫn được đưa về diện kiến Đức Thượng Đế tất cả hai lần.

Sau đó nếu đoạt vị sẽ được ở lại cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, nếu bị đọa hay còn trược sẽ được đưa trở xuống lằn không khí, người nào ăn không đúng 10 ngày chay đưa lên sẽ bị sét đánh như tiếng nổ vừa rồi mà tôi đã nghe thấy.

Tôi còn thấy tội và phước của tôi rất rõ ràng trong Thiên Tự Kinh, trãi qua 40 năm hành Đạo kể từ lúc làm Đồng Nhi đến hiện tại khi về Thiêng Liêng tôi không có phẩm vị gì cả vì những lý do sau đây: Một là tôi còn mơ hồ không đặt trọn đức tin vào nền Đại Đạo, hai là tâm phàm tôi còn nóng quá, ba là tôi không biết thương yêu sanh chúng, bốn là tôi hay bày lỗi người. Bởi lẽ đó nên công quả của tôi bị tiêu mòn vì các khoảng trên. Tuy nhiên tôi được Đấng Thiêng Liêng cầm Phướng giảng giải rằng: “Sở dĩ tôi được ân huệ cho sống lại cõi trần để lập công bồi đức là nhờ vào thời kỳ đang chuyển Pháp trong lúc bấy giờ, thêm vào hai việc:

Có hiếu vì lúc nào tôi cũng vâng lời và làm vừa lòng cha mẹ; không chối Đạo là: Trong khoảng thời gian 1945–1946 tôi bị bắt vì tôi là Chức việc của Đạo Cao Đài. Lúc đó nếu ai nhận mình là Cao Đài Tây Ninh thì bị giết, vì nhà đương quyền nơi ấy cho Cao Đài Tây Ninh là phản động là tự trị. Trong tình trạng nầy biết bao nhiêu người chối Đạo, còn tôi mặc dầu mơ hồ, nghi hoặc thiếu đức tin, nhưng vì hiếu vì nghĩa khí của con người tôi quyết không chối Đạo, chớ lúc đó tôi đâu có nghĩ, sự hy sinh và can đảm nầy sẽ được kết quả gì?

Sau khi thấy được dĩ vãng và nghe lời giảng giải xong, tôi được đưa trở lại trần gian. Trên đường về tôi lại thấy những việc hãi hùng hơn cả của kiếp sanh. Tôi thấy một khoảng rất đông người, nhưng chỉ có ít Nguyên nhân thoát khỏi kiếp luân hồi, còn phần đông phải chịu luân hồi qua nhiều kiếp thú, có người 5 kiếp, 10 kiếp, rồi lần lần lên có người trên cả trăm kiếp thú mới trở lại làm người tùy theo căn quả. Tôi lại thấy có cả thân nhân trần tục của tôi đang mang một kiếp thú, mà khi trước tôi không hề biết. Than ôi! Còn biết bao nhiêu linh hồn hiện còn đang mang kiếp thú thật là đau khổ biết bao.

Tôi lại còn được nghe Đấng Thiêng Liêng giảng giải rằng: Khi THƯỢNG ĐẾ sanh ra loài người và loài vật, thì Ngài sanh ra Thảo mộc Ngũ Cốc để nuôi người và vật. Nhưng loài vật lại hung hăng giết hại loài người trước để thực nhục. Sau đó loài người mới trở lại giết hại loài vật để dùng nhục thể mà nuôi sống bản thân. Bởi đó loài người và loài vật vay nợ lẫn nhau tiếp tục luân hồi đến nay vẫn chưa dứt nợ. Tôi còn thấy các Chơn linh bị đọa tại hồng trần không biết bao nhiêu mà kể. Họ đông hơn người sống, họ nhìn tôi hết sức bi lụy, khi biết tôi được trở lại cõi trần, họ yêu cầu tôi làm cách nào nói với con cháu họ Tu hành để cứu họ. Vì khi Chơn linh xuất ra khỏi xác rồi không còn cách nào để tạo công lập vị, hoặc làm cho mình hết tội được. Các Chơn hồn chỉ còn cách bám díu vào tình huyết nhục ở phàm trần, tức là họ trong đợi vào công đức của những người thân còn sống để siêu thoát cho họ. Bằng ngược lại họ đành phải chịu đọa đày vơ vất không biết trăm ngàn năm nào mới được đầu thai tái kiếp.

Tôi được Đấng Thiêng Liêng giảng giải tiếp: Từ lúc Thượng Đế lập Pháp Tam Kỳ Phổ Độ Ngài đã đóng cửa Phong Đô, nên các Chơn hồn khi bị đọa phải chịu vơ vất tại chốn hồng trần ngửi mùi hôi thúi rất đau khổ, chờ trông con cháu Tu hành lập công đoạt vị mới cứu họ được thoát khỏi tội tình.

Đến đây tôi nghe bảo: – Xuống đi. Tôi sợ quá, còn chần chờ thì bị xô chới với và được sống lại, mở mắt ra thấy người nhà đang lăng xăng lo cho tôi, lúc đó vào khoảng 5 giờ sáng, ngày mùng 3 tháng 7 năm Nhâm Tý, khi tôi chết rất khó khăn và khổ sở bao nhiêu, khi sống lại cũng dễ dàng bấy nhiêu.

Kính thưa Quý Hiền Huynh, Hiền Tý!

Trong suốt cuộc hành trình khoảng 9 tiếng đồng hồ chết đi sống lại, tôi có được những hiểu biết tổng quát về cõi giới vô hình như sau:

1. Khi Chơn linh xuất ra khỏi xác thì thông minh mẫn đạt vô cùng, có thể thông công với tất cả các Chơn linh khác về việc làm cũng như ý tưởng, dù ở xa hay ở gần và cái thấy thì vô cùng tận. Chơn linh là Điểm Linh Quang mà chúng ta đang có trong mỗi người đây rất quý báu, Chơn linh nào cũng Thần thông quảng đại biến hóa vô cùng. Những Chơn linh đoạt vị thì thung dung tự toại nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, còn Chơn linh bị đọa phải mất tự do sống đau khổ trong phạm vi chật hẹp của chốn trần gian đầy trược chất.

2. Các Chơn linh đều có một tình huyết nhục, đều là con chung của Đấng Thượng Đế, không phân biệt kẻ lạ người quen như ở trần tục.

3. Ở cảnh giới phàm trần nầy ngoài sự sống hữu hình còn có vô số Chơn Linh bị đọa, đang sống lẫn lộn với người phàm, nhưng giác quan của con người bình thường không hề hay biết. Họ là những người lúc sanh tiền gây nhiều tội lỗi, khi chết Chơn Linh phải đến nhà Tịnh, sau đó ra Tòa Tam Giáo rồi bị đọa xuống cõi trần sống vơ vất ngửi mùi trược chất hôi thúi. Mãi đến khi có con cháu Tu hành đoạt vị xin được tội tình, họ mới lên được cõi Thiên Thai chờ ngày tái kiếp.

4. Trên cảnh trần một bực là cảnh Thiên Thai không có trược chất, dành cho các Chơn Linh sống an nhàn một thời gian chờ ngày tái kiếp để lập công trở về ngôi vị.

5. Kế Thiên Thai là nhà Tịnh, dành cho các Chơn Linh bị tội vào đó xét mình sau đó mới bị đọa như đã nói ở phần trên.

6. Trên nhà Tịnh là cảnh giới của hàng phẩm Thần, Thánh. Một nơi mà Chơn Linh tôi được đưa đến sau cùng và các nét sinh hoạt tôi vừa trình bày ở đoạn trước.

Kính quý vị!

Từ ngày tôi được sống lại đến nay, tôi đã ôn lại tất cả sự thấy của tôi trên cõi vô hình thì quả thật đúng là Đức Thượng Đế đã giáng trần lập Đạo, và tôi tự thấy bước đường lập công của mình quá trể. Nên tôi ráng cố gắng đem tài sức hèn mọn của tôi chung lo cho Đại Nghiệp của Đạo. Bằng chứng là: Hơn một năm qua tôi đã hy sinh cả tài vật sẵn có của tôi. Lúc cần tôi còn mượn thêm của người khác, để làm những việc hữu ích cho nhơn sanh. Có nhiều người thấy tôi làm như vậy họ tưởng tôi trúng số, chớ quý vị ấy đâu có ngờ tôi được thấy cảnh kia, nên tôi quyết làm cho được việc, để mong trở về quê xưa cảnh cũ nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, Tôi hằng cầu nguyện với ĐỨC CHÍ TÔN – PHẬT MẪUCÁC ĐẤNG THIÊNG LIÊNG hộ trì cho tôi vững bước trên đường lập công với Đạo.

Tôi tin rằng: Nếu tất cả chúng ta có đủ sáng suốt sớm giác ngộ đặt trọn đức tin vào nền Chánh giáo của ĐỨC CHÍ TÔN để lo Tu niệm, chắc chắn khi thoát xác chúng ta sẽ trở về hội ngộ cùng ĐỨC CHÍ TÔN và được vào cảnh Thiêng Liêng vô cùng xinh đẹp mà tôi đã kể.

Lúc trước, tôi không đặt trọn đức tin vào nền Chánh Giáo, nên những lời vàng ngọc của ĐỨC CHÍ TÔN cũng như của Đức Hộ Pháp, tôi không được lãnh hội vì tôi ít khi đem Thánh Ngôn hay Kinh sách ra xem.

Từ lúc sống lại đến nay tôi mới tầm những lời vàng ngọc của ĐỨC CHÍ TÔN. Vào ngày mùng 9 tháng 9 Quí Sửu, tôi được một Chức Sắc Hiệp Thiên Đài cho mượn cuốn Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp nói về cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống. Tôi thấy có một hai khoảng trùng hợp về sự thấy của tôi. Như khoảng Đức Hộ Pháp nói: “Khi Chơn linh xuất ra khỏi xác thì đi như máy bay vậy. Nói chuyện bằng tư tưởng khỏi nói bằng lời và tâm tưởng thông công cùng Trời đất, thấy các Chơn Linh rất đông nhưng không tiếng động”.

Tôi xin làm chứng với quý vị, các điều trên đúng như vậy, có hai người thấy đủ chứng minh một sự việc cho quý vị đặt cả đức tin. Nếu lúc trước tiếp được quyển sách nầy chắc tôi cũng không lãnh hội được, vì lúc ấy tôi còn quá mơ hồ. Còn hôm nay thì tôi đặt trọn đức tin vào lời nói của Đức Hộ Pháp.

Hiện giờ nếu nói đến cái chết, thì tất cả chúng ta đây ai cũng ngán sợ, nhưng ở cõi trần nầy nếu chúng ta không chịu Tu hành lập công bồi đức để tiêu trừ nghiệp quả, ắt phải chịu luân hồi vay trả với các kiếp sống và chết mãi mãi không thôi.

ĐỨC CHÍ TÔN có nói: “Tà quái vốn chứa sự chết, thì chúng nó có biết sự hằng sống là gì?”

Theo lời dạy của ĐỨC CHÍ TÔN, nếu chúng ta không Tu hành thì phải chịu dưới phép tà thần, gây tội lỗi trong các kiếp luân hồi.

ĐỨC CHÍ TÔN có nói:

“Người dưới thế nầy; muốn giàu có phải kiếm phương thế làm ra của. Ấy là về phần xác thịt. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật muốn cho đắc Đạo phải có công quả”.

“THẦY đến độ rỗi các con là lập thành một trường công đức cho các con nên Đạo. Vậy đắc Đạo cùng không là tại các con muốn cùng chẳng muốn… Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình, thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc Đạo bao giờ…”

“Cửa BẠCH NGỌC INH ít kẻ, chớ chốn A TỲ vốn nhiều người. Con liệu mà hành Đạo”.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, quyển I trang 26)

ĐỨC CHÍ TÔN còn giảng giải rằng:

“Mỗi kẻ phàm dưới thế nầy đều có hai xác thân. Một phàm gọi là Corporel. Còn một Thiêng Liêng gọi là Spirituel. Mà cái Thiêng Liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng”.

“Cái xác vô hình huyền diệu Thiêng Liêng ấy do nơi Tinh–Khí–Thần mà luyện thành. Nó nhẹ nhàng hơn không khí. Nơi xác phàm xuất ra, thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc Đạo mà có Tinh–Khí không có Thần thì không thế nhập mà hằng sống đặng.

“Còn có Thần mà không có Tinh–Khí thì khó hườn đặng nhị xác thân. Vậy ba món báu ấy phải hiệp mới đặng. Nó vẫn là chất, tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà khí Tiên Thiên thì hằng có điển quang. Cái Chơn thần buộc phải tinh tấn, trong sạch mới nhẹ hơn không khí ra khỏi ngoài Càn khôn đặng.

Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, Chí Phật mới xuất Thánh Tiên Phật đặng.

Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn thần tinh khiết”.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, quyển I trang 29)

Theo lời dạy của ĐỨC CHÍ TÔN, Thầy buộc chúng ta nếu muốn đắc Đạo phải có mấy điều: Lập Đức, Lập Công, Lập Ngôn và Trường chay.

Với các điều trên đây quả thật là khó. Nhưng tôi thưa cùng quý vị, ở trong đời không có cái khó nào mà chúng ta làm không đặng, chỉ muốn cùng chẳng muốn mà thôi. Muốn thoát vòng sanh tử, chúng ta phải lo lập công bồi đức trong một kiếp sanh nầy mới được về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Như vậy chúng ta được lời nhiều, ví chẳng khác một người lái buôn kia đi một chuyến mà trở thành tỷ phú.

Kính quý chư Hiền Huynh, Hiền Tỷ!

Tại sao phải tốn bao nhiêu công vất vã đi từ nơi này đến nơi kia, kêu gọi nhắc nhỡ mọi người cùng tôi phải lo Tu, vì khi chết tôi đã nhìn thấy được tình huyết nhục thiêng liêng thì thương yêu vô tận, khi thấy cảnh tội tình khổ sở của các chơn hồn, đau đớn nhứt là họ nhìn tôi một cách thống thiết bi lụy, khi biết tôi tôi được trở lại cõi trần họ yêu cầu tôi làm cách nào kêu gọi con cháu họ Tu hành để cứu vớt họ.

Xin nhắc lại: Khi Chơn Linh xuất ra khỏi xác rồi, không còn lập công tạo vị, hay làm cho mình hết tội được, nên các chơn hồn chỉ bám víu vào tình huyết nhục ở phàm trần nầy là những người thân còn sống để mong siêu thoát cho họ.

Tôi phải làm sao! Một năm qua đau khổ cho tôi biết bao, khi trở lại, các Đấng Thiêng Liêng bảo đừng nói những việc vô hình mà tôi đã thấy. Như vậy tôi làm sao giải thoát cho tình huyết nhục thiêng liêng bị đọa đày. Còn nếu đem lời Thánh giáo đi kêu gọi, thì mấy anh của chúng ta có làm rồi. Họ không chịu nghe nên mới bị đọa. Chỉ có cách là tôi phải hy sinh nói lên một phần nào điều nghe thấy để cứu độ tình huyết nhục thiêng liêng, rồi cầu xin Đức Đại Từ Phụ tha thứ cho tôi và những lời nói của tôi quý vị nên suy nghĩ kỹ, ráng Tu lập vị cho mình và cũng để cứu CỬU HUYỀN THẤT TỔ.

Sự hy sinh của tôi chỉ để mong cứu độ. Lời nói của tôi muốn tất cả con cái của Đức Chí Tôn đều nghe; nhưng than ôi! Tiếng nói của tôi nhỏ quá. Còn bản thân tôi chẳng khác một hột cát nằm dưới góc tường. Quý vị có hiểu đâu, nhiều lúc tôi phải ngồi mà khóc thâu canh. Lời nói của tôi có Các Đấng Thiêng Liêng chứng giám, nói với tất cả tâm huyết của tôi. Tôi không được may duyên trên đường học vấn, nên những lời lẽ không được văn hoa; tôi chỉ nói lên những lời xác thật của sự việc mong quý vị hiểu cho.

Kính quý Hiền Huynh, Hiền Tỷ!

Tiếp theo câu chuyện hôm nay, tôi xin lấy danh nghĩa của một người chết đi được sống lại có đôi lời cùng quý vị: Những lời của tôi vừa nói trên đây đã trình bày một phần nào điều nghe thấy ở cỏi vô hình. Tôi xin có một, hai ý kiến cùng quý vị bàn thảo việc Tu hành của anh chị em chúng ta, chớ tôi không dám múa rìu qua mắt thợ. Đối với nhiều vị tôi chưa đáng mặt học trò, nhưng tôi vẫn cố gắng đem tài hèn sức mọn để trình bày tư tưởng của tôi về con đường giải thoát.

Kính thưa quý Hiền Huynh, Hiền Tỷ!

Chúng ta là môn đồ của Đức Thượng Đế, là người học Đạo, mà chữ Đạo thì mênh mông vô tận, càng học chừng nào thấy mình dốt chừng nấy. Cái học của chúng ta rất nhiều bài toán khó. Vậy chúng ta cùng bàn tính để làm cho trúng mới có điểm thiêng liêng. Cái trường học Đạo thì công quả của chúng ta đang học đây rất khó khăn gấp mấy lần trường học thi trần tục. Ông chủ khảo của chúng ta lại thần thông quãng đại thì không ai qua mắt ông được. Chúng ta phải chuyên cần học tập, làm bài trúng có điểm nhiều thi mới đậu. Chớ không phải nói như thế gian là học tài thi mạng được. Câu ấy để an ủi những người thi rớt ở trần gian. Còn việc thấy của tôi, tôi chứng minh với quý vị rằng: Cái không không trên kia vẫn có và có cả sự luân hồi chuyển kiếp. Hiện giờ cửa địa ngục đã đóng, các chơn hồn bị tội phải vơ vất cả trăm năm nơi trần nầy, ngửi mùi hôi thúi. Các chơn hồn ấy ngót đau khổ, ngồi trông con cháu Tu hành lập công bồi đức để siêu thoát cho mình, đặng chuyển kiếp làm người tạo công lập vị.

Các chơn hồn hồi mang lấy kiếp sanh gây nhiều tội lỗi, khi thoát xác không được thăng thiên, vơ vất nơi trần gian mang danh thể gọi là ma. Tôi thấy họ nhiều hơn người sống.

Quý vị tin vào lời nói của tôi mà tu sửa bản thân trần tục, cố làm sao Chơn Linh chúng ta khi thoát xác được nhẹ nhàng, qua khỏi lằn không khí mới về đến cõi Thiêng Liêng. Chỉ có cách là chúng ta phải ăn chay để khỏi thay thân trả nợ cho thú cầm, và ta phải Tu hành lập được công đức cứu độ nhơn sanh, khi thoát xác mới mong tránh khỏi luân hồi và được hội hiệp cùng Đức Thượng Đế.

Hồi lúc tôi được sống lại, có lời dặn là không nên nói, chỉ ráng lo Tu tạo công lập vị để được trở về. Trãi qua một năm dài cầu nguyện với các Đấng Thiên Liêng hộ trì cho tôi thông minh trí huệ, để nhận định mọi sự việc tôi đã nghe thấy. Tôi suy nghĩ mãi, nếu không nói lên là ich kỷ, chỉ lo cho mình mà thôi. Còn nói lên là có lỗi, nên tôi cầu nguyện với Đức Chí Tôn thà nói lên mà bị lỗi, vì tôi quá thương yêu tình huyết nhục thiêng liêng. Biết đâu nói lên tôi cũng có công thức tỉnh một phần nào con cái của Ngài. Tôi muốn tất cả chúng ta cùng về với Đức Chí Tôn. Nhưng tôi không biết làm sao nói lên cho con cái của Đức Chí Tôn nghe và tin cũng như tôi đã thấy. Lời lẽ của tôi không thể nào diễn tả nỗi hết cái thấy của tôi. Họa chăng có những lời lẽ của bậc siêu nhân mới nói lên hết được.

Kính Quý Hiền Huynh, Hiền Tỷ!

Từ lúc tôi bịnh đến chết, khi sống lại tôi không thấy ốm, nhưng rồi tôi xanh xao cả mấy tháng, vì tôi quá hãi hùng cho tội lỗi của nhơn sanh mà chính mắt tôi thấy rõ.

Nếu thấy cảnh thiên sầu địa thảm ấy, quý vị cũng sẽ khổ như tôi. Lúc Chơn Linh xuất ra đến khi được trở lại tôi không thấy nét vui vẻ của ai. Từ cõi Thiêng Liêng Hằng Sống đến cảnh tội tình. Các Đăng Thiêng Liêng thì sắc diện hiền từ, nhưng buồn thảm cho nhơn loại gây lắm tội tình. Các Chơn Linh tội lỗi thì sầu khổ bi lụy. Còn tôi thì ân hận vô cùng vì đã trọn kiếp sanh làm chưa nên việc. Ngó đến thân nhân trần tục của tôi, cũng có người đoạt vị, cũng có người về Thiêng Liêng với hai bàn tay trắng, cũng có kẻ bị tội tình. Nay tôi được may duyên sống lại nên không nài khó nhọc, trước bao trở lực cam go, tôi vì tình huyết nhục thiêng liêng quyết tâm kể lại với quý vị, chỉ mong quý vị ráng lo Tu lập công tạo vị, để khi thoát xác chúng ta được hội hiệp cùng Các Đấng và cũng để cứu độ thân nhân trần tục.

Tôi dám quả quyết rằng: Chúng ta ai cũng có ít nhiều thân nhân bị đọa. Đó là nói về xác tục. Còn Thiêng Liêng thì toàn là huyết nhục của chúng ta chung một Đấng Cha Trời. Tôi ước mong sao tất cả đều lo Tu thì từ cảnh Thiêng Liêng kia dến nơi u tối nọ, sẽ trở thành vui vẻ sáng sủa không còn buồn rầu bi lụy nữa.

Nay Đức Chí Tôn vì dĩ đức háo sanh lập Tam Kỳ Phổ Độ, định luật ân xá cho con cái của Ngài lập công mà về nơi Thiêng Liêng Hằng Sống tránh quả kiếp luân hồi.

Đại ân xá nghĩa là: Nếu lúc trước chúng ta có làm tội lỗi gì dầu lớn hay nhỏ; khi đã hướng thiện và hành thiện, qui tùng luật lệ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ rồi, kể từ đây chúng ta đừng phạm nữa thì sẽ được ân xá tội trước. Còn công quả từ lúc chúng ta qui tùng luật Đạo là để doạt vị, chớ Đức Chí Tôn không trừ đâu, tôi xin bảo đảm như vậy.

Đức Chí Tôn có dạy rằng: “…Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu Đời không tội lỗi, đâu đến nhọc công Thầy” (TNHT – Q.I, trang 41).

Qua lời dạy của ĐỨC CHÍ TÔN, chúng ta thấy rằng: Thầy rất thương yêu những người tội lỗi, nên chính mình Thầy là vị Chúa Tể Càn Khôn vũ trụ đã giáng trần lập Đạo bằng huyền diệu cơ bút để cứu độ con cái của Thầy.

Kính Quý Hiền Huynh, Hiền Tỷ!

Thật ra tôi tài hèn đức mọn, chỉ đáng được nghe những lời Đạo Đức của đàn anh chị chỉ dẫn, chớ đâu dám múa búa trước cửa lổ ban diễn văn nơi làng Khổng Thánh. Nhưng vì là một môn đồ của Thượng Đế lúc nào chúng ta cũng phải học, nói lên lời Đạo Đức, trước tập sự, sau để cùng nhau trau đổi, đặng sửa tánh tu tâm đi cho cùng bước Đạo.

Kính Quý vị!

Tôi được may duyên sống sót là nhờ sự hiếu trung, tôi được thấy chút ít thiên cơ, nên tôi cầu xin với Đức Chí Tôn từ bi cho tôi nói lên sự bí mật của vô hình, để thức tỉnh bạn đồng sanh và cũng là tình huyết nhục thiêng liêng đặng dìu dắt nhau về cùng Đức Đại Từ Phụ.

Khi chết tôi thấy nhiều tín đồ đoạtvị đến Thần, Thánh, Tiên; cũng có nhiều tín đồ bị đọa, theo nghĩa chữ Tu rất khó, nên Đức Chí Tôn có nói:

“Sắm nghiệp trần gian còn phải khó,
Lựa là Nghi trưởng tại Bồng Sơn”.

(Thi văn dạy Đạo, TNHT, QI, trang 127).

Khi mới vào làm môn đệ của Đức Chí Tôn, trước hết là phải lập thệ, thề rằng: Tên gì? Họ gì? Từ đây biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư môn đệ, gìn luật lệ Cao Đài, như sau tôi có lòng hai thì Thiên tru Địa lục.

Lời thề nầy đứng trước Thiên Bàn có cả Thần, Thánh, Tiên, Phật chứng giám được ghi chép vào Thiên Tự Kinh rồi, nếu không làm đúng theo lời thề làm sao qua khỏi luật Thiên Điều, như câu: “Gìn luật lệ Cao Đài”, mà luật lệ Cao Đài thì có “Ngũ giới cấm” của Đức Thượng Đế như:

1. Nhứt bất sát sanh: Đức Thượng Đế cấm không sát hại sanh vật.
2. Nhị bất Du Đạo: Đức Thượng Đế cấm không gian tham bất chánh ham muốn của người.
3. Tam bất tà dâm: Đức Thượng Đế cấm không nên vì sắc dục dậy lòng tà.
4. Tứ bất tửu nhục: Đức Thượng Đế cấm không nên uống rượu say sưa làm mất bản tánh thiên nhiên.
5. Ngũ bất vọng ngữ: Đức Thượng Đế cấm không nói dối.

Năm điều cấm trên đây của Đức Thượng Đế là khuôn vàng thước ngọc của nền Chánh Giáo, mà phần nhiều Đạo Hữu không gìn giữ còn quên Đạo, chối Đạo nữa, thử hỏi khi thoát xác tránh sao khỏi bị đọa thật đáng thương thay!

Vì không hiểu được luật lệ của Thượng Đế nên nhiều Đạo hữu bị đọa. Còn đáng tiếc là Chức sắc mà cũng bị đọa, cầm luật mà phạm luật. Than ôi! Thật khó!

Kỳ Hạ Ngươn nầy, là buổi hiệp Ngũ Chi, Qui Tam Giáo. Đức Chí Tôn dùng huyền diệu Tiên Gia giáng cơ Giáo Đạo. Chúng ta lấy làm hữu duyên hữu phước mới sanh nhằm kỳ Đạo mở, muôn năm ngàn kiếp mới có một lần như vậy. Nếu chẳng thành tâm tu luyện thì rất uổng cho một kiếp sanh. Nhập môn cầu Đạo là để làm lành lánh dữ, dưỡng tánh tu tâm, lập công bồi đức, cứu độ nhơn sanh. Chớ không phải chúng ta vào Đạo dể lấy phần đông.

Tiếp sau đây, tôi xin luận về Nhơn Đạo.

Kính quý vị!

Nếu chúng ta muốn Tu Thiên Đạo, thì trước hết phải thực thi về Nhơn Đạo, bởi có câu: “Dục Tu Thiên Đạo, tiên Tu Nhơn Đạo, Nhơn Đạo bất Tu, Thiên Đạo viễn hĩ”.

Nghĩa là: Muốn sửa theo Đạo Trời, trước sửa Đạo Người, Đạo người chẳng sửa, Đạo Trời xa vậy.

Nói về Nhơn Đạo: Trong Nhơn Đạo có Tam Cang, Ngũ Thường.

Tam Cang: Là Quân Thần, Phụ Tử, Phu Thê.

Đức Thánh dạy: Chúa ở với Tôi cho có Đạo Đức, Tôi đối với Chúa phải có lòng tin. Cha ở với con cho từ thiện. Con phải trọn thảo. Chồng ở với vợ cho có nghĩa, Vợ đối với chồng phải trọn tiết. Ấy là Tam Cang.

Còn Ngũ Thường: Là Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Kính quý vị!

Tôi xin luận về Hiếu đạo của con người. Chúng ta là người Tu hành phải trọng về Hiếu Đạo. Bởi có câu: “Thân thể phát thu thọ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thủy giả, lập thân hành đạo dương danh ư hậu thế, dĩ hiến kỳ Phụ Mẫu, hiếu chi chung giả”.

Nghĩa là: Hình vóc tóc da thọ ơn cha mẹ, chẳng dám phá hoại thảo ấy trước vậy. Lập mình hành đạo chánh, dùng tỏ tiếng tốt cho cha mẹ thảo ấy sau vậy.

Theo lời của Đức Thánh dạy: Chúng ta là phận làm con, phải lo Tu hành, làm lành lánh dữ, dưỡng tánh tu tâm, lập công bồi đức, cứu độ nhơn sanh đoạt phẩm vị Thiêng Liêng để cứu Cửu Huyền Thất Tổ, ấy là làm con trọng hiếu.

Vậy chúng ta ráng lo Tu được đắc Đạo cho đẹp lòng của Đức Đại Từ Phụ và Đức Phật Mẫu. Tôi xin thưa cùng quý vị rõ, nếu lo Tu mà đắc Đạo, khi về Thiêng Liêng Chơn Linh chúng ta được mang cái hình dáng y như khuôn rập xác phàm, đó là điều mà Đức Chí Tôn ban ơn cho Ông Bà Cha Mẹ trần tục của chúng ta.

Quý vị nên tin lời nói của tôi, đừng mơ hồ. Chờ đến ngày thoát xác thì sự dã muộn rồi, cũng như tôi lúc trước vì mờ hồ không tin vào lời dạy dỗ của đàn anh, nay tôi vô cùng hối hận, vì mái tóc đã điểm sương, mà công phu cứu độ chưa được là bao. Nếu không nhờ hồng ân của Đức Thượng Đế thì tôi đâu còn sống sót để lập công.

Tiếp theo đây, tôi xin kể lại câu chuyện một vị Thiên Thần vấn nạn Phật trong một đoạn sách mà tôi đã đọc.

Thiên Thần hỏi Phật: “Bạch Phật! Cây gươm nào bén hơn hết? Vị thuốc nào độc hơn hết? Đêm nào tăm tối hơn hết?”

Phật đáp: “Một lời thốt ra trong cơn giận dữ là cây gươm bén hơn hết. Sự tham lam là vị thuốc độc hơn hết. Còn sự dốt nát là đêm tối tăm hơn hết”.

Thiên Thần hỏi nữa: “Ai được lợi nhiều hơn hết? Ai lỗ nhiều hơn hết? Khôi giáp nào đâm chẳng thủng? Còn khí giới nào tốt hơn hết?”

Phật đáp: “Kẻ thi ân bố đức được lợi nhiều hơn hết. Kẻ thọ ơn người mà không báo đáp thì lỗ nhiều hơn hết. Tánh kiên nhẫn là khôi giáp đâm chẳng thủng. Còn đức minh triết là khí giới tốt hơn hết”.

Thiên Thần lại hỏi: “Cái chi làm cho thiên hạ yêu mếm hơn hết? Cái chi làm cho thiên hạ gớm ghiết hơn hết. Sự khổ não nào nặng nề hơn hết? Cái hạnh phúc nào lớn hơn hết?”

Phật đáp: “Điều lành làm cho thiên hạ yêu mếm hơn hết. Điều ác làm cho thiên hạ gớm ghiết hơn hết. Lòng xấu xa là sự thảm khổ nặng nề hơn hết. Sự thoát khỏi đọa luân hồi là hạnh phúc hơn hết”.

Kính Quý Hiền Huynh, Hiền Tỷ!

Tai sao Phật gọi nói trong cơn nóng giận là cây gươm bén hơn hết. Vì trong lúc nóng giận, ta không kiên nễ ai, cũng như cây gươm bén chém vào vật chi cũng đứt.

Nếu ai suy nghĩ kỹ, sự tham lam quả là món thuốc độc hơn hết, vì nó xúi con người làm nhiều tội ác, hễ ai làm ác thời mắc họa. Vậy nuôi tánh tham lam có khác nào mình dùng thuốc độc thuốc lấy mình chăng? Còn người dốt nát, khác nào ở trong đêm tối mù mịt, không có chút ánh sáng nào cả. Còn người thi ân bố đức mà không mong hưởng phước ở cõi trần nầy thì mới lợi nhiều. Còn người thọ ơn mà không lo đền báo, té ra mình vô nghĩa làm sao.

Tánh kiên nhẫn quả thật khôi giáp đâm chẳng thủng. Bởi vì người có tánh kiên nhẫn không có cái chi làm cho ngã lòng, thế nào cũng đạt được mục đích của mình.

Đức minh triết là khí giới tốt hơn hết. Mình dùng cái trí sáng phân biệt được triết lý cao siêu của Đạo để giải thoát khỏi sự u ám trong cảnh đọa luân hồi. Quả thật đức minh triết là khí giới tốt nhất vậy.

Ngày nào rõ được luật Trời rồi, ngày đó con người biết được rằng: Thoát được kiếp luân hồi là hạnh phúc lớn hơn hết. Dầu làm Vua Chúa hay Công Hầu Khanh Tướng chi chi, tấm thân cũng nhọc nhằn không được an vui mãi, hễ bỏ cái xác nầy rồi, lại phải mang cái xác khác, mỗi lần đầu thai là mỗi lần đau đớn. Bởi vậy, nếu ai dứt được kiếp sanh tử dưới phàm trần này, về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống thoát khỏi nghiệp luân hồi, chừng đó mới hạnh phúc thảnh thơi.

Tôi xin có bao nhiêu lời cùng Quý Hiền Huynh, Hiền Tỷ. Tôi chỉ có thể nói lên đây khoảng 3/10 những gì tôi đã thấy trong cõi vô hình. Kính mong quý vị thông cảm.

Trước khi chấm dứt thiên hồi ký nầy, tôi xin cầu nguyện với Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, Các Đấng Thiêng Liêng, ban nhiều ân lành cho Quý Hiền Huynh, Hiền Tỷ được tinh thần mẫn huệ đặt trọn đức tin vào nền Chánh giáo.

Thân ái kính chào Quý Hiền Huynh, Hiền Tỷ.

Viết xong tại Tòa Thánh Tây Ninh.
Ngày Rằm tháng Chạp năm Quí Sửu (DL: 7/10/1974)
Tác Giả
Trần Thị Sương



Viết bình luận...