Hồi Ký Chết Đi Sống Lại

LỜI GIỚI THIỆU


Kính thưa quí vị độc giả!

Khoảng cuối năm Quí Sửu (1973) nhờ một dịp may, chúng tôi được nghe câu chuyện “người chết sống lại” qua lời tường thuật của chính đương sự.

Nhận thấy câu chuyện có tính cách hấp dẫn nên sau đó chúng tôi tìm cách dò hỏi căn nguyên, thì được biết Bà Trần Thị Sương 49 tuổi, hiện đang sống tại số nhà A1/1, Ấp Trường Lưu, Xã Trường Hòa, Quận Phú Khương, Tỉnh Tây Ninh, cách đây hơn một năm Bà Sương bị bệnh cảm và chết trong đêm mùng 2 tháng 7 âm lịch, năm Nhâm Tý (10/8/1972), nhưng sáng hôm sau bà được sống lại, việc nầy những người xung quanh xác nhận một cách chắc chắn với chúng tôi.

Đời sống cá nhân của Bà Sương, trước và sau khi chết đi sống lại có thể nói là hai trạng thái trái ngược nhau. Trước kia bà chỉ là một người bình thường như bao nhiêu người khác, sau ngày chết đi sống lại Bà Sương bắt đầu thay đổi nếp sống thường nhật, bà đã đem gần hết thì giờ riêng tư của bà hàng ngày lo hoạt động các công tác có tính cách từ thiện. Bà đã cấp gạo, đèn, Kinh cúng Tứ Thời v.v… giúp cho trên 1.000 gia đình nghèo tại 1 số các ấp trong Tỉnh Tây Ninh, tuy công việc làm của bà có tính cách âm thầm nhưng vẫn được nhiều người biết và xác nhận.

Tất cả công việc cứu trợ của bà chỉ có mục đích Từ Thiện và khuyến giáo, chớ bà không tuyên bố điều gì về việc chết đi sống lại của bà, gần đây khoảng tháng 11/1973, bỗng nhiên bà đến các nhà quen biết kể lại các hoạt động của cảnh giới vô hình mà bà đã nghe thấy trong đêm bà chết (tức là đêm mùng 2 tháng 7 Nhâm Tý). Sau mỗi lần kể bà đều khuyên người nghe, nên lo tu hành, lập công bồi đức phụng sự nhơn sinh trước để tự giúp bản thân thoát khỏi cảnh trầm luân, sau cẫu rỗi Cửu Huyền Thất Tổ được siêu thăng tịnh độ, lần lần câu chuyện lan rộng, có qua nhiều người thăm hỏi Bà Sương mới nghĩ cách thâu âm câu chuyện vào một cuộn băng phát thanh lại bằng máy “cassette” nhỏ khi có người muốn nghe. Bà còn chịu khó đi lại nhiều nơi để phát thanh cho nhiều người cùng nghe câu chuyện do bà kể. Chúng tôi với tư cách một trong đa số thính giả của câu chuyện sau một thời gian kiểm chứng chúng tôi ghi nhận được một số ý kiến như sau:

Đối với cá nhân riêng chúng tôi cũng xin có những nhận định như sau:

1. Trong đời sống hàng ngày nếu có một kẻ đang làm những công việc phi nhân, phi nghĩa, bổng trở thành một người biết ăn năn hối lỗi, Tu tâm sửa tánh, cải dữ ra hiền, chắc chắn xã hội sẽ rất hoan nghinh, để có được hạng người đó, huống chi như một người đàn bà như Bà Sương, cũng có những khuyết điểm lỗi lầm trong đời sống như bao nhiêu người khác, đang từ một đời sống tầm thường bỗng may duyên gặp được sự mặc khải trong việc chết đi sống lại bà đã trở thành một người biết hy sinh lo phụng sự chúng sinh một cách tích cực với tinh thần không vụ lợi, bà còn dám tiết lộ những hoạt động của giới vô hình, mặc dù trước khi sống lại bà được lịnh của Thần Linh cấm nói lại theo sự tiết lộ của bà, sở dĩ bà làm như vậy là vì sau một năm dài suy tư về những điều nghe thấy trong cõi giới vô hình, và nhất là lý do vì sao Thần linh ngăn cấm bà thuật lại, giờ đây bà đã hiểu được phần nào trong lời dạy của Các Đấng Thiêng Liêng. Hơn nữa, nếu sự việc trên được tiết lộ cũng chỉ một mình bà có lỗi vì đã cải lịnh bề trên, nhưng ngược lại câu chuyện đã giúp ích được nhiều người trên đường tìm phương giải thoát. Bởi đó sau cùng bà cương quyết kể lại những việc ở cõi giới vô hình mà bà đã duyên hạnh ngộ, đồng thời bà cũng chấp nhận tất cả những hậu quả xảy ra cho cá nhân bà sau khi câu chuyện tiết lộ.

Trước công việc làm hoàn toàn có tính cách ích lợi chung, là cảnh giác người đời mau dừng bước trước hố sâu tội lỗi trở về còn đường thiện, thiết tưởng tất cả.

2. Chúng ta nên cộng tác và khuyến khích Bà Sương vững bước tiến, để trợ lực cho cơ tiến hóa, hơn là gây trở ngại cho bước đường phụng sự của bà. Chúng tôi còn nhận thấy Bà Sương đã mang đến cho người đời một thông điệp về ý nghĩa của cuộc sống:

3. Trong đời sống hằng ngày có những việc mắt phàm không bao giờ thấy, tai phàm không bao giờ nghe, nhưng nó vẫn có thật trong vũ trụ. Bởi đó, muốn tìm hiểu về đời sống vô hình, chúng ta không thể nào chỉ dựa vào sự tiếp nhận của giác quan mà phải được cảm nhận bằng tâm linh của chúng ta, đã có nhiều Sứ giả của Thượng Đế đến truyền bá và chứng minh với người đời rằng:

Thượng Đế và đời sống vô hình luôn luôn có thật, một câu nói của Thánh Jean cách đây gần 2.000 năm đã vượt hẳn không – thời gian, luôn luôn là một minh chứng hùng hồn cho những ai còn thiếu đức tin về THƯỢNG ĐẾ:

“Người nào đã cảm giác được cái tinh thần Thiêng Liêng của Đấng CHÍ TÔN không thể lầm lẫn, nghi ngờ, hoặc phủ nhận nó. Ôi! Thế gian, ví như các người có đồng thinh phủ nhận Ngài, ta thà từ bỏ thế gian và giữ vững Đức tinh của ta”

(Trích: Chơn Sư và Thánh Đạo, quyển II; trang 35 của Leadbeater, dịch giả Nguyễn Hữu Kiệt).

4. Trở lại câu chuyện của Bà Sương, chúng tôi nhận thấy nó không nhầm mục đích đưa con người vào vòng mê tín, trái lại nó có tính cách cũng cố đời sống tinh thần Đạo Đức nhân loại. Tuy nhiên, chúng tôi cần ghi nhận thêm một ý kiến sau cùng, về tính cách đặc thù của hiện tượng do Bà Sương kể. Dù sao đi nữa, hiện tượng trên cũng còn ở trong vòng sắc tướng nên nó chỉ có giá trị tương đối. Đạo Pháp vốn vô biên, trường hợp nghe thấy của Bà Sương là một trường hợp đặc thù, ý nghĩa câu chuyện có ích lợi nhiều nhất là đối với cá nhân bà và một số người có đồng trình độ tấn hóa, muốn đạt đến mức tuyệt đối, chỉ khi nào không còn âm thanh và sắc tướng nữa, đó là một cái không toàn diện của Hư Vô tịch diệt. Nếu như thế, sẽ không còn gì để diễn tả, để nói lại với cõi hữu hình giả tạm. Bởi đó, tùy theo giới hạn của hoàn cảnh không gian và thời gian Đấng toàn năng đã đến với con cái của Ngài bằng nhiều hiện trong mặc khải, bằng nhiều hình ảnh âm thanh khác nhau, bằng nhiều lý lẽ khác nhau, để đem con cái của Ngài đạt đến mục đích sau cùng, là giải thoát toàn diện linh hồn, từ cõi tạm trở về cõi thực, nhập vào đại thể của vũ trụ.

Với những nhận định trên đây, chúng tôi đã không ngần ngại khuyến khích Bà Sương viết lại câu chuyện thành một thiên hồi ký, để phổ biến rộng rãi đến mọi giới, ngõ hầu giúp ích thêm được phần nào cho nhân loại trên đường giải thoát.

Xin chân thành giới thiệu cùng Chư độc giả quyển hồi ký của bà Trần Thị Sương và rất mong đón nhận những ý kiến xây dựng.

Nay kính.

TÒA THÁNH TÂY NINH, Rằm – Giêng, Giáp Dần
(DL: 6/3/1974)
GIÁO SƯ: NGUYỄN LONG THÀNH
HỘI VIÊN KHẢO CỨU VỤ TÒA THÁNH TÂY NINH



Viết bình luận...