Tụng kinh là tỏ dấu kỉnh thành cùng Trời, Phật. Miệng tụng kinh, lòng tưởng đến Trời Phật, linh hồn mình dường như thông công với Trời Phật vậy. Vả lại, mỗi lần tụng, miệng niệm ra những câu lành, tâm trí cảm giác theo, lâu ngày mình nhiễm lấy điều lành, rồi lần lần, mình bố hóa cho mình mà trở nên người lương thiện.
Tụng kinh phải cho thành tâm mới có cảm động, có cảm rồi mới có ứng, có ứng rồi mới có nghiệm.
Kinh kệ vốn khoa văn, thành tâm đưa linh hồn lên thông công cùng Thầy là thật hành. Nếu chẳng thật hành, khoa văn chẳng ích chi. Langsa gọi: Théorie sans pratique.
Huống chi kinh điển mỗi mỗi đều có ý tứ sâu xa, tụng kinh phải cầu lý, vô lý chẳng phải kinh. Nhờ hiểu thông cho cạn lý mới thấu đáo Thiên cơ, mới đặng hiệp tánh cùng Chí Tôn. Hiệp tánh của Chí Tôn tức là hiệp tánh của Tiên Phật. Người chẳng xét nét cùng lý kinh điển, để chế độ thật hành, dầu khỏ mõ, đánh chuông, tụng kinh ngày đêm, hao khí, tổn thần, đến chết cũng không thành đạo đặng.
Phải kinh thanh, tâm thanh, khẩu thanh thì cầu kinh mới cảm ứng.
Tóm lại, kinh kệ cốt để tỏ dấu kỉnh thành Trời, Phật, Thánh, Thần, để cảm hóa lòng người và chỉ rõ máy huyền vi cho người làm đạo, chớ chẳng phải làm cho người trở nên Tiên, Phật được.
Muốn làm Tiên Phật phải luyện Tinh-Khí-Thần, rồi nhờ huyền diệu Chí Tôn hiệp nhứt. Mà phép luyện đạo là Tiên Thiên bí thuật, cần có Minh Sư chỉ điểm mới nên.
Ta nay nhờ có Thầy là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế độ rỗi phần hồn, ấy là Đệ Nhứt Minh Sư đó, miễn ta thành tâm tu niệm, trì trai, giữ giới, hễ ngày giờ đến, là buổi công viên, quả mãn, lo chi luyện đạo không thành.