Khổ đời muốn lánh gắng tìm phương,
Giành giựt đừng mong chác thế thường.
Xạo xự tuồng đời lừng bợn tục,
Trau tria nét đạo nực mùi hương.
Rừng Thiền ngàn dặm Trời soi bước,
Biển khổ muôn chia khách lạc đường.
Gặp được nẻo ngay đời có mấy?
Thìn lòng khối ngọc tạo nên gương.
Gắng sức trau giồi một chữ tâm,
Đạo đời muôn việc khỏi sai lầm.
Tâm thành ắt đạt đường tu vững,
Tâm chánh mới mong mối Đạo cầm.
Tâm ái nhân sanh an bốn biển,
Tâm hòa thiên hạ trị muôn năm.
Đường tâm cửa Thánh dầu chưa vẹn,
Có buổi hoài công bước Đạo tầm.
Phải giữ chơn linh đặng trọn lành,
Ngọc Hư toàn ngự đấng tinh anh.
Luật điều Cổ Phật không chừa tội,
Hình phạt Chí Tôn chẳng vị tình.
Chánh trực kinh oai loài giả dối,
Công bình vừa sức kẻ chơn thành.
Mũi kim chẳng lọt xưa nay hẳn,
Biết sợ xin khuyên cẩn thận mình.
Màn Trời đã vẹt ngút mây trương,
Bước tới Đài Hoa thấy tỏ tường.
Ngọc sáng non Côn đà gặp nẻo,
Lối mòn động Bích chớ lầm đường.
Chánh tà đôi nẻo tua tầm chước,
Hư thiệt muôn phần gắng định phương.
Mê tỉnh chuông khua phân biệt tiếng,
Rừng thiền nô nức loán mùi hương.
Tìm Đạo mà chi khá hỏi mình,
Bến mê mới vững vớt quần sinh.
Vun trồng cội phúc ơn chan thấm,
Dong ruổi đường Tiên nghĩa tạc gìn.
Tâm chánh nương nhau dìu lối chánh,
Lòng thanh nhờ lẫn lóng hơi thanh.
Thiên cơ tuy hẳn nêu trường khảo,
Lướt khỏi, ngàn thu quả đắc thành.
Đổi tục về Tiên sắc đượm nhuần,
Rưới chan cho khắp giọt hồng ân.
Rừng tòng thanh nhã say mùi Đạo,
Bể khổ mênh mang vớt khách trần.
Linh dược đầy bầu là cội ái,
Kinh luân nặng túi ấy nguồn nhân.
Buồm trương lái vững chờ sông lệ,
Đưa chiếc thuyền sen dựa đảnh Thần.
Cậy kẻ dạy con cũng lẽ thường,
Cho roi cho vọt mới là thương.
Nhơn tình ví chẳng mưu thâu phục,
Thế giới mong chi phép độ lường.
Nhỏ dạy Thầy nuôi mùi Đạo hạnh,
Lớn khôn bây xứng mặt hiền lương.
Vinh hoa phẩm cũ ngôi xưa đó,
Khổ cực các con chớ bỏ trường.
Trau giồi giữ xứng phận nga mi,
Tấn thối riêng lo kịp thế thì.
Thanh sử từng nêu gương nữ kiệt,
Hồng ân chi kém bạn nam nhi.
Lọc lừa chớ để đen pha trắng,
Lui tới đừng cho bạc lộn chì.
Hạnh đức điểm tô non nước Việt.
Muôn năm bia tạc tiếng còn ghi.
Thiều quang nhặt thúc khuất màu xuân,
Trở bước quanh co rán liệu chừng.
Hứng giọt Ma Ha lau tục lụy,
Ngừa thuyền Bát Nhã thoát mê tân.
Trau tâm hiệp sức vun nền Thánh,
Dưỡng tánh chờ khi sạch bợn trần.
Phước gặp Tam Kỳ Trời cứu độ,
Gắng tu kịp buổi lướt Đài Vân.
Rừng thiền nhặt thúc tiếng chuông trưa,
Phước gặp về Ta buổi đã vừa.
Nẻo hạnh làu soi gương nguyệt thấm,
Sân ngô rạng vẻ cảnh thu đưa.
Mai tàn tuyết xủ đời thay đổi,
Dữ tận hiền thăng khách lọc lừa.
Mùi Đạo gắng giồi lòng thiện niệm,
Duyên mai tìm lại phẩm ngôi xưa.
Rẽ lối non sông thấy Động đào,
Bừng con mắt tỉnh giấc chiêm bao.
Đường gai gốc gắng lần qua khỏi,
Cảnh rạng ngần tua rán bước vào.
Mùi tục lần xa, vui đạo đức,
Cõi tâm rộng mở khổ giồi trau.
Nước dương rưới sạch trần ai cũ,
Bờ giác nương theo nguyệt rọi làu.
Cần lo học Đạo chí đừng lơi,
Phú quí sương tan lố bóng Trời.
Lợi lộc xôn xao rồi một kiếp,
Nghĩa nhơn tích trữ để muôn đời.
Làm lành sau cũng lành vay trả,
Chác dữ âu hay dữ vốn lời.
Mấy kẻ xét mình tâm tự cải,
Thân danh bể khổ mặc buông trôi.
Lần lừa ngày tháng cảnh đưa xuân,
Ướm chổi huỳnh lương tỉnh dậy lần.
Rạng nẻo chung soi đèn Bạch Ngọc,
Dò đường xúm núp bóng Hồng Quân.
Hồi chuông cảnh tỉnh vang rừng Thánh,
Tiếng trống giác mê nhặt đỉnh Thần.
Biết Đạo khá lo trau hạnh đức,
Dữ lành đợi buổi cũng cân phân.
Ngày chầy dặm thẳng gắng đưa qua,
Chịu khổ trau tâm chí mới già.
Vẹt ngút mây xanh Trời tỏ rõ,
Quét lằn bụi đỏ thế phui pha.
Lòng trần gội sạch noi đường chánh,
Nét Đạo gìn thanh lánh nẻo tà.
Đèn huệ chực soi mau tiến bước,
Nơi miền cực lạc dễ đâu xa.
Đường về muốn vẹn để công trình,
Bóng nguyệt tua dò nẻo rạng thinh.
Xuân hé đã hay cơn ác lố,
Đông tàn khá biết lúc Trời chinh.
Trau tài trau phận tua trau đức,
Biết thế biết nhân mới biết mình.
Dặm khổ qua rồi ngôi vị sẵn,
Hay chi thế tục chước cầu vinh.
Nhiệm mầu Tạo hóa cuộc vần xây,
Thưởng phạt cũng do một buổi nầy.
Đức trước hưởng thừa tâm vẹn giữ,
Nhân sau để dấu chí đừng lay.
Đường mây thẳng gió hồng trương cánh,
Bước Đạo êm chơn nguyệt rọi mày.
Dìu dắt sanh linh lo tế độ,
Thiên niên danh tạc chốn Vân Đài.
Liễu Huệ nhuần sương Liễu Huệ tươi,
Chiều Xuân nguyệt rạng vẻ hoa cười.
Màn Trời mây khỏa muôn sao lố,
Thuyền Đạo buồm treo một sắc phơi.
Cội trước gió đưa hơi nhắn khách,
Rừng tòng khách giục cảnh chờ người.
Lần theo bước rạng non Thần đến,
Chớ luyến phồn hoa lụy đến nơi.
Vun nền đạo hạnh khá rèn lòng,
Gặp hội đành vui chữ sắc không.
Cúc rải đường qua vang tiếng nhạn,
Rừng tà bóng khuất vẳng hơi thung.
Xuôi chiều đổ bến êm dòng bích,
Phải lúc nương mây chớp cánh hồng.
Nhuần gội ơn Trời âm chất vẹn,
Mau chơn ngày tháng đã qua đông.
Rừng thung bóng nhựt đã hầu chinh,
Tỏ rạng gần noi bước vẹn gìn.
Ách đất rắp nhồi trường náo nhiệt,
Cửa Trời kịp mở vớt quần sinh.
Nâng đời khá gắng trau nhơn đức,
Học Đạo tua năng luyện tánh tình.
Khổ hạnh chí mong qui nẻo chánh,
Ngoài tai chớ chác miếng hư vinh.
• Ấn bản năm Nhâm Tý (1972): Tỏ rạng gần nơi bước vẹn gìn.
• Ấn bản năm Canh Tuất (1970): Tỏ rạng gần noi bước vẹn gìn.
Non chiều ác xế bóng Trời thâu,
Nẻo chánh may nương buổi đáo đầu.
Theo bước kịp thì tìm ánh sáng,
Ngừa thuyền ấy lúc lánh dòng sâu.
Soi gương hạnh đức trau lòng tục,
Hứng giọt từ bi rửa bợn sầu.
Nhặt thúc quang âm xuân đã lụn,
Liệu qua cho khỏi cuộc tang dâu.
Thìn trau đức tánh để nêu gương,
May gặp đạo mầu gắng liệu phương.
Cội Bắc chim về chiều ngã bóng,
Non Nam ác lố ánh tan sương.
Thuyền từ sông lệ buồm trương cánh,
Cảnh trí rừng thung khách lướt đường.
Độ chúng cứu đời công nghiệp để,
Thiên ân hưởng trọn khá lo lường.
Cành mai thơ thới đượm hơi xuân,
Dìu dắt đem nhau lại đảnh Thần.
Tích đức để lòng trau khổ hạnh,
Diệt phàm gắng chí thoát mê tân.
Lừng Trời vẹt ngút mây xây mịt,
Đài ngọc khoe gương sắc rạng ngần.
Công nghiệp dồi dào âm chất đủ,
Long Hoa đợi hội hưởng Thiên ân.
Đã nhiều danh lợi bước đua tranh,
Nhọc xác lao tâm hỏi có thành?
Ác lố rọi tan lằn gió bụi,
Nguyệt lờ soi gượng bước công khanh.
Đường tu ví sớm noi gương rạng,
Cội phúc mai sau hưởng quả lành.
Mộng ảo trò đời đâu mấy chốc,
Ngựa qua cửa sổ cuộc tan tành.
Dặm dài bước lạ nẻo chưa quen,
Tánh chất dầu trau gẫm chẳng hèn.
Bóng trải diềm dà xuân đợi chúa,
Tiết nồng thơ thới hạ khoe sen.
Nhành dương nước rưới tan lòng tục,
Nguồn Thánh đạo dìu lại cõi Tiên.
Phước gặp kỳ ba Trời dẫn độ,
Mau chơn rán lướt tới rừng thiền.
Day mặt Hồng Quân ngó Địa hoàn,
Rưới chan vạn vật khối sinh quang.
Cõi Tiên mở rộng cung Đâu Suất,
Nước Phật sửa an cảnh Niết Bàn.
Cứu thế quyết ngưng quyền Địa phủ,
Độ đời cố tạo phước nhơn gian.
Thần thông trói chặt Ma vương quái,
Dìu bước vạn linh đến cảnh nhàn.
Viết thử Thiên thơ với nét trần,
Hầu sau bền giữ nghiệp Hồng Quân.
Chuyển luân thế sự đưa kinh Thánh,
Trừ diệt tà gian múa bút Thần.
Kìa lóng non Kỳ reo tiếng phụng,
Nầy xem nước Lỗ biến hình lân.
Công danh nước Việt tay đành nắm,
Mưa mốc dân sanh gắng gội nhuần.
Đường mây sẵn lối gặp may duyên,
Nâng gánh xa thơ sửa mối giềng.
Anh tuấn đất gìn nung khí phách,
Uy linh Trời giữ tạc đài liên.
Hồn về nước cũ đời nương thế,
Hạc lại tùng xưa đức lập quyền.
Đảnh Việt chờ qua cơn bão tố,
Muôn năm tỏ rạng mối chơn truyền.
Có hiệp đem đường nẻo mới thông,
Phân chia cội Đạo uổng vun trồng.
Quanh đường chớ cậy chơn Kỳ Ký,
Ngược gió tài chi sức Hộc Hồng.
Bể khổ mênh mang lo giải khổ,
Nền công nghiêng ngửa gắng nên công.
Phong ba dầu được dìu qua khỏi,
Nhớ bởi chung nhau kết dải đồng.
Bạch Vân nhàn lạc khỏe thân già,
Thương kẻ nặng mang nợ quốc gia.
Đời rạng lưu tồn gương nhựt nguyệt,
Đạo thành vạn đại chiếu sơn hà.
Thiện nam gắng giữ nền nhân nghĩa,
Chơn nữ hằng ghi thuyết cộng hòa.
Trách nhiệm thiệt hành cho vẹn phận,
Hồng ân chung hưởng buổi âu ca.
Trần thế hầu gây náo nhiệt trường,
Lánh nguy nguồn Đạo vẹn tìm phương.
Vùi sầu nay gắng chung vai gánh,
Hưởng phước sau may hiệp bước đường.
Cay đắng lần soi gương trí huệ,
Chia phui chờ trải lối tang thương.
Dặn mình tua chặt trong gang tấc,
Sau trước lòng son giữ đặng thường.
Biến chuyển Trời Nam cuộc đảo huyền,
Trả vay cho sạch vết oan khiên.
Trường Đời đem thử gan Anh Tuấn,
Cửa Đạo mới ra mặt Thánh Hiền.
Đau khổ rán gìn nhơn nghĩa vẹn,
Tang thương chờ hưởng huệ ân riêng.
Non sông Việt chủng ngày êm lặng,
Chung sức cùng nhau đức lập quyền.
Những là khổ nhọc chịu cơ đời,
Hạnh phúc thử nhìn đặng mấy mươi.
Vinh nhục đòi phen vui lẫn khóc,
Ghét thương lắm lúc giận pha cười.
Đường tâm tự tỉnh chơn ra giả,
Nẻo đức gồm theo thiệt hóa chơi.
Thoát tục ví ai tìm nẻo Thánh,
Bến mê lướt sóng đến ven Trời.
Bóng dương tỏ rạng lố chơn mây,
Đầm ấm hơi xuân nở mặt mày.
Tranh thế bớt pha lằn bợn trược,
Cuộc đời thêm rạng vẻ thanh bai.
Trường Tiên mở rộng chơn du khách,
Nẻo hoạn buông khơi trí đặc tài.
Lọc nước rửa đời Trời để dấu,
Riêng che Nam đảnh một cân đai.
Ác lồng nhựt rạng tản sương mơi,
Gặp lối đường quanh khó tách vời.
Thuyền Đạo đẩy đưa lằn sóng biển,
Bước đời dùn thẳng bước thang Trời.
Đai cân mảng luyến chưa nên phận,
Danh lợi ham giành khó vẹn ngôi.
Nhắn nhủ phồn hoa mau thức tỉnh,
Lần lừa bỏ quá kiếp xuân thời.
Lồng sương gió thoảng bặt hơi xuân,
Để bước tìm nơi Đạo gội nhuần.
Sóng khỏa thuyền về còn lắc lở,
Rừng chờ khách trở buổi cân phân.
Trau gương hạnh đức pha lòng tục,
Giồi trí thanh cao giữ tánh Thần.
Thưa nhặt thoi đưa trời xế bóng,
Xét mình một khắc một mau chân.
Dìu dắt tìm ra lối lạ lùng,
Bóng trời xúm xít đỡ nương chung.
Dài đường chớ ngán con Kỳ Ký,
Ngược gió đừng nao cánh Hộc Hồng.
Nhướng mắt tua dò theo kẻ trí,
Thìn lòng khá gắng đắp nền công.
Sen tàn cúc nở qua ngày tháng,
Nhặt bước đường hoa đến cội tùng.
Cái kiếp hồng nhan kiếp đọa đày,
Phải làm cho gái hóa ra trai.
Linh oai vẻ ngọc là gươm sắc,
Mềm mỏng hình hoa ấy phép tài.
Phòng tía cất thành hình thổ võ,
Cung loan lập giống dạng Cao Đài.
Muốn đi cho tận trường sanh địa,
Phải đổi giày sen lấy thảo hài.
• Ấn bản năm Nhâm Tý (1972): Linh oai vẻ ngọc là gươm sắc,
• Ấn bản năm Canh Tuất (1970): Linh oai vẻ ngọc là gương sắc,
Bắt ấn trừ yêu đã tới kỳ,
Ngọc Hư định sửa mối Thiên thi.
Cửu Trùng không kế an thiên hạ,
Phải để Hiệp Thiên đứng trị vì.
Thành pháp dìu đời qua nẻo khổ,
Nên công giúp thế lánh cơn nguy.
Quyền hành từ đấy về tay nắm,
Phải sửa cho nên đáng thế thì.
Đào Nguyên lại trổ trái hai lần,
Ai ngỡ Việt Thường đã thấy lân.
Cung Đẩu vít xa gươm xích quỉ,
Thiềm cung mở rộng cửa Hà ngân.
Xuân thu định vững ngôi lương tể,
Phất chủ quét tan lũ nịnh thần.
Thổi khí vĩnh sanh lau xã tắc,
Mở đường quốc thể định phong vân.
Mở rộng đường mây rước khách trần,
Bao nhiêu tình gợi nhắn nguyên nhân.
Biển mê cầu ngọc liên phàm tục,
Cõi thọ sông Ngân tiếp đảnh Tần.
Chuyển nổi Càn Khôn xây Võ Trụ,
Nhẹ nâng Nhựt Nguyệt chiếu Đài Vân.
Cầm gươm huệ chặt tiêu oan trái,
Dìu độ quần sanh diệt quả nhân.
Nầy lúc Kỳ Ba Phổ Độ trần.
Mau chơn thoát khỏi chốn mê tân.
Đường gai gốc gắng lần qua khỏi,
Đạo đức sớm hôm khá vẹn cần.
Nguồn đào lạc lối ấy duyên may,
Gặp Đạo nương theo bước dặm dài.
Nắng hạ héo khô vườn bá tánh,
Dắt nhau tìm núp bóng Cao Đài.
Cao Đài đứng chủ cả sanh linh,
Bến khổ bầu Tiên rưới thế tình.
Mở mắt tỉnh lần cơ mộng điệp,
Hữu sanh hữu khổ phải toan gìn.
Gìn lòng chơn chánh chớ tà tây,
Thưởng phạt về sau cũng hội nầy.
Trước biết sửa mình tâm trí vẹn,
Sau nương cảnh tịnh mới nên hay.
Hay gần đạo đức mới nên thân.
Lánh chốn phồn hoa giữ tánh thần.
Một nét vạy tà Thần Thánh chép,
Rèn lòng trong sạch thoát mê tân.
Tân toan khổ hạnh phải trau giồi,
Bước tới đường dài chớ trở lui.
Công khó độ đời đừng nệ khó,
Phước dư đợi lúc hưởng ơn Trời.
Đông tàn cảnh ướm trở nên xuân,
Xuân nở vườn mai há mấy lần.
Lần lựa cho đò xa bến Thánh,
Thánh tâm mấy kẻ vẹn trau thân.
Nghèo sạch rách thơm mới đáng người,
Nệ chi cực nhọc buổi xuân mơi.
Nay đà gặp lúc thiên ân rưới,
Gắng bước đường tu hưởng phước đời.
Tài tuy ít, đức nên nhiều,
Nhiều đức mới tròn bước Đạo theo.
Theo đặng bước nào gìn bước nấy,
Trở lui e vướng lúc nghiêng nghèo.
Tà nguyệt vườn thu ướm trở đông,
Nhạn về đảnh Bắc tiếng qua sông.
Bền lòng thiện niệm bồi căn trước,
Trễ bước thuyền e bị ngược dòng.
Lo lường nền hạnh đặng lên cao,
Cao đức nguồn Tiên mới bước vào.
Vào đặng Tam Kỳ Trời cứu khổ,
Khổ thêm gắng chịu tánh năng trau.
Đường Đạo tìm vào mới rõ cơ,
Cơ mầu giải khổ chớ chần chờ.
Chờ cho trễ bước thuyền xa bến,
Bến tục thoát vòng hết ước mơ.
Trời thương đâu nệ nhọc công trình,
Chịu nhọc vì lo đám chúng sanh.
Sanh dưỡng dưỡng sanh rồi phải độ,
Độ cho trở bước lại đơn đình.
Giựt giành rốt cuộc cũng tay không,
Nhân quả đeo mang tội chất đồng.
Ví biết phép công cơ thưởng phạt,
Đường tu sớm bước chí thong dong.
Sáng đường nhờ có bóng trời soi,
Đạo đức để tâm chớ đổi dời.
Công quả thìn lòng sau hưởng phước,
Dặm dài đừng nệ bước xa xôi.
Gìn giữ về sau mối Đạo mầu,
Nương theo bước trước gắng tìm châu.
Thuyền chờ bến tục buồm trương sẵn,
Đưa đến nguồn trong rửa bợn sầu.
Quanh co muốn khỏi gắng lòng thành,
Chứa đức là phương phước để dành.
Hứng giọt nhành dương lau tục lự,
Hay chi thua được bả công khanh.
Công khanh xạo xự cũng vai tuồng,
Đêm lặng rừng thiền lóng tiếng chuông.
Mê luyến hồng trần mang ách khổ,
Cơn vui qua khỏi lệ sầu tuôn.
Nẻo chánh tìm theo mối đạo gìn,
Hay chi tuồng thế bước đua tranh.
Của nhiều ít đức sương trên cỏ,
Giành giựt mà chi phải lụy mình.
Đừng sợ khó, khó nên công,
Công khó may gìn chữ sắc không.
Không sắc sắc không vui đảnh hạc,
Hạc về chốn cũ dựa rừng tòng.
Rừng tòng tìm đến lánh cay chua,
Đêm lặng lóng nghe tiếng khánh chùa.
Lần gội tâm phàm vui cảnh trí,
Đường trần lưu luyến nhọc tranh đua.
Dời đổi thói đời lắm thị phi,
Trăm năm chung đỉnh có ra gì?
Tìm nguồn đạo đức tâm phàm gội,
Danh mà chi, lợi ấy mà chi?
Thông biết thế thời mới gọi thông,
Thông minh học đạo vẹn trau lòng.
Lòng trần dầu muốn phong ba dứt,
Độ chúng tu nhơn chí nả nong.
Sáng đèn cánh bướm liệng xôn xao,
Lánh họa tua gìn hạnh đức trau.
Noi dấu đường ngay Trời tế độ,
Chen chơn nguồn Thánh bước lần vào.
Ức lòng dễ tỏ đặng cùng ai,
Hiền đức mà sao chịu khổ hoài.
Lão nói tỏ tường cho đó hiểu,
Cũng là vay trả luật xưa nay.
Dữ đọa hiền thăng ấy luật Trời,
Lánh đường tà vạy hưởng an vui.
Nay con phước gặp nền chơn Đạo,
Ngọc tốt bền trau sắc rạng ngời.
Suối lành đổ nước hóa sông thanh,
Đức hạnh muốn trau vẹn tánh lành.
Trước muốn đưa chơn vào cửa Phạm,
Hỏi mình có trọn tấm lòng thành?
Dối ai đâu dễ dối cùng Trời,
Biết đạo răn mình cũng hết hơi.
Từ bỏ lần hồi lầm lỗi trước,
Tự nhiên bể khổ lánh xa vời.
Bá tước công khanh ý vị gì?
Mà đời dám đổi kiếp sầu bi.
Nương chơn chưa biết chơn nào vững,
Níu thử cân đai thấy nặng trì.
Được vàng chớ khá gọi là may,
Vàng hết tội kia chất dẫy đầy.
Bỏ đức bỏ nhân bao kiếp đọa,
Khuyên con giữ đạo đến cùng Thầy.
Lối ngay nẻo chánh gắng tìm đường,
Lánh chốn thị phi đạo mới tường.
Dòng bích thuyền từ còn đợi bến,
Thu qua gặp gió cánh buồm trương.
Cõi thế tìm nơi đạo đức vào,
Lòng thành Thần Thánh chứng công lao.
Nhân sanh thấy khổ đưa tay cứu,
Chẳng mất phần sau địa vị cao.
Thắm thoát đời qua cuộc bể dâu,
Ham vui chỉ chác cuộc mua sầu.
Lập thân muốn tránh đường mưa gió,
Tìm Đạo nương mình vững nghiệp sau.
Rừng thiền trở gót mới thung dung,
Nhàn hạ riêng vui cảnh bá tùng.
Lao lực thế tình chi xạo xự,
Rửa tai chờ lóng nhạc năm cung.
Cung đàn chờ khách cận song thu,
Năng mến Đạo mầu chí trượng phu.
Biển khổ vớt người thuyền gặp lúc,
Đeo đai thế sự chỉ mua sầu.
Tách bến sông mê sóng tạt thuyền,
Lọc lừa nghiệp quả kẻ may duyên.
Trương buồm hạnh đức xuôi chiều gió,
Đưa khách phồn hoa lánh nẻo phiền.
Sao cho thành kỉnh Phật Trời thương,
Đạo đức chăm lo vững mối đường.
Công nghiệp phải lo sanh chúng độ,
Đàn sau để dấu kẻ soi gương.
Mùi đời biết đặng lắm chua cay,
Cay đắng kiếp người khổ ớ ai?
Ai dám xả thân hành chánh Đạo,
Đạo mầu theo dõi hết trần ai.
Đồng thuyền kẻ trước dắt người sau,
Sau trước nương nhau ấy chước mầu.
Mầu nhiệm dễ chi tìm thấu đáo,
Đáo đầu mới rõ Đạo là cao.
Đạo đức gắng theo đỡ ít nhiều,
Ngày thâu bóng nhựt đã hầu xiêu.
Tu thân dầu khổ, thân tiên độ,
Có khó có nên nhọc phải chiều.
Xử thế phải cho vẹn thế tình,
Trau tâm trau đức sạch chơn linh.
Bến mê rước khách thuyền đương đợi,
Đưa đến đào nguyên hưởng phước lành.
Dò theo đường chánh chớ sai lầm,
Biết đạo cần trau một chữ tâm.
Tiên Phật nơi mình đâu phải khó,
Khó do chẳng trọn tấm chơn thành.
Đức tánh khen con có chí thành,
Lần đường Đạo chẳng chút cầu danh.
Ghe phen cửa rách hiên nhà lủng,
Không quản lao đao giữ tiếng lành.
Dọn mình cho sạch bớt phàm tâm,
Lẽ chánh tà kia phải xét thầm.
Đừng bụng nghi nghi rồi hoặc hoặc,
Tự nhiên rõ thấu đạo cao thâm.
Trau hạnh làm gương dắt kẻ sau,
Một nhà đạo đức khá thương nhau.
Noi theo người trước đời trông cậy,
Gắng sửa lều tranh hóa động đào.
Nâu sồng khổ hạnh phép gần Tiên,
Như bước ướt chơn mới đến thuyền.
Gắng chí tập lần thân cực nhọc,
Bền tâm tu luyện mới là nên.
Cao đê thế sự khá đinh ninh,
Một dặm xa xuôi nhọc lộ trình.
Lần lựa chỉ sầu tay gỡ rối,
Trời tây bóng nhựt đã hầu chinh.
Dư phước dành sau ấy thế hay,
May chơn bước gặp bóng Cao Đài.
Sạch lòng để dạ vun nền Đạo,
Phủi thế an vui đợi đến ngày.
Mạnh yếu rồi đây yếu được phần,
Được phần máy Tạo khéo cầm cân.
Cầm cân thăng thưởng răn người thế,
Người thế sao cho hạnh chói ngần.
Tranh đua đã quá nửa đời người,
Thử hỏi phước phần được mấy mươi.
Mưu được phần mình thì tổn đức,
Của tiền dầu chất há an vui.
Vui Đạo vui nhân ấy thiệt vui,
Vui còn sóng sắc hại mình thôi.
Vui nơi đổ bác là vui khổ,
Vui thói tà gian lụy trọn đời.
Đời qua thắm thoát cõi nhơn gian,
Sớm nở hoa kia chiều vội tàn.
Mái tóc điểm sương chưa học Đạo,
Họa kề dầu hối khó than van.
Lắm kẻ còn xuân chẳng tiếc xuân,
Tạo thành nghiệp dữ biết bao lần.
Chớ quên máy Tạo nên mầu nhiệm,
Vay trả đồng cân thế chuyển luân.
Chữ hiếu phải lo vẹn phận người,
Sanh thành đạo trọng há đâu chơi.
Buông trôi ví chẳng tròn nhơn đạo,
Còn có mong chi đến Đạo Trời.
Có thân có khổ, khổ vì thân,
Nào có sướng chi cái kiếp trần.
Kẻ trí phải lo phương giải khổ,
Tìm thuyền Bát Nhã lánh mê tân.
Mê tân là chốn đọa con người,
Vương bá công hầu lụy mấy mươi.
Ham miếng đỉnh chung mê sắc đẹp,
Hại thân tiếng xấu để muôn đời.
Thảo ngay con vẹn giữ cho bền,
Phải phận là phần đáng bậc trên.
Dìu dắt đàn em sau nối gót,
Con đường đạo đức bước càng lên.
Nhiều nhân quả trước phải đền nay,
Chẳng gỡ cho kham cứ nhắc hoài.
Một tiếng than van thân cực nhọc,
Một oan chẳng chịu muốn gây hai.
Cang cường quen tánh hiếp dân nghèo,
Nghe Đạo Phật Trời cũng muốn theo.
Chẳng khác chồi non xô đại mộc,
Như sa vực thẳm khó toan trèo.
Tìm vào nẻo Đạo mới tri cơ,
Cơ Tạo huyền vi chớ hững hờ.
Tỉnh giấc mộng chờ qua biển khổ,
Thế tình vui vẻ chí đừng mơ.
Say Đạo là say bậc Thánh Hiền,
Hiền xưa sớm để bước tầm Tiên.
Tiên nguồn Thánh ngọn dò chơn đến,
Đến đặng là phương rưới lửa phiền.
Tranh đức tranh nhân mặc sức tranh,
Đừng tranh lợi quấy khổ thân hình.
Hai đường họa phước tua lừa lọc,
Vay trả cơ Trời chớ dể khinh.
Đừng lòng kiêu hãnh cậy mình tài,
Nên nhớ chữ tài cận chữ tai.
Tài ít đức nhiều còn hữu dụng,
Tài suông thiếu đức họa nay mai.
Nhơn nghĩa gắng gìn dạ sắt son,
Thờ cha kính mẹ hiếu lo tròn.
Nghèo mà trong sạch danh thơm rạng,
Phúc hậu Trời ban để cháu con.
Họa phước vô môn chỉ tại người,
Thỉnh mời rồi đổ bởi nơi Trời.
Huệ ân muốn hưởng noi đường Đạo,
Hối cải tu thân phải giữ lời.
Mùi đời đã nếm biết chua cay,
Giành giựt còn mong cậy sức tài.
Nếu chẳng định tâm lo xét quấy,
Nhãn tiền báo ứng dễ đâu sai.
Đừng quá so đo việc phú bần,
Bần hàn trong sạch mới nên thân.
Thân trau khổ hạnh thân đừng nệ,
Nệ khó mong chi thoát thế trần.
Thế trần mộng mị có ra chi,
Giành giựt rồi qua hỏi được gì?
Tích đức gắng gìn nhơn nghĩa trọn,
Chông gai xa lánh cảnh sầu bi.
Nợ nước hai vai nặng gánh gồng,
Thần dân phận sự phải lo xong.
Gắng công đạo đức trau hằng bữa,
Chiu chít đừng quên giống Lạc Hồng.
Ơn Trời cho mở Đạo kỳ ba,
Dìu dẫn nhơn sanh lánh vạy tà.
Ví muốn tu thân nhồi quả trước,
Gắng công sau sẽ đến cùng Ta.