Đạo Sử II

50. Ngày 07–01–1927 (âl. 04–12–Bính Dần): Ðức Thái Bạch thâu Môn Ðệ và dạy đạo.


Vendredi 07 Janvier 1927 (04–12–Bính Dần).

THÁI BẠCH

Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh. Bình thân. Kêu Thổ nhơn vào. Thâu. Nữ phái thượng sớ. Hiếu Hương, Hiền Muội hành lễ.

Trà mi:

Trà mi đã ngậm nửa vành rồi,
Một kiếp nhơn sanh đến đó thôi.
Lo đạo đức dồi lo kiếp tới,
Còn chi mong mỏi sự chơi bời.

Thâu

Tý:

Tý thời nghịch lẫn Ngọ đưa oan,
Mấy lúc chung lo cái vẻ nhàn.
Nỗi nợ nỗi duyên đưa thảm đến,
Thành gia nào kẻ dạ ưu toan.

Thâu

Niên:

Niên canh chẳng hiệp mạng nghèo hèn,
Bởi đạo đức nhiều mới lấn chen.
Đổi thế chẳng người lo giữ phận,
Chánh tâm Thiên Địa để lời khen.

Thâu

Chuốc:

Chuốc trau cho vẹn đạo Tam Tùng,
Chẳng quí phận chàng thiếp chịu chung.
Hương lửa ba sanh Trời đã định,
Căn duyên phải phận giữ cho cùng.

Thâu

Kiểu:

Kiểu chăm gia nội đặng an rồi,
Phải biết xét mình đến đó thôi.
Sau đặng nên nhà công chớ nại,
Khiến điều oan trái chớ than ôi.

Thâu

Sảnh:

Sảnh sẹ hay lo gánh việc người,
Công linh chẳng để tỉnh thân ngươi.
Quen trò khi bạn lời ganh ghét,
Nể mặt không kiêng có Đất Trời.

Thâu

Nguyệt:

Nguyệt tà bóng lặn ngã Tây hiên,
Hỏi cớ gì đâu chịu nỗi phiền.
Trước chẳng nghe thân đôi lúc khó,
Nay đem thân gởi cửa vô duyên.

Thâu

Nguyện:

Nguyện lo cho hết nợ song thân,
Cái khó nhọc kia đã định phần.
Phẩm gái chưa ai toàn chữ hiếu,
Nên mình phải vẹn nợ thâm ân.

Thâu

Nghi:

Nghi nan chớ chác lấy lòng phàm,
Hễ biết Đạo mầu mới biết ham.
Mắt thịt thấy Trời coi thấp chủm,
Hỏi ai cho thấu Đạo khôn tầm.

Thâu

Còn:

Còn thân còn nợ cõi trần nầy,
Cứ nhướng mắt tìm cảnh hạc mây.
Cõi tục đã rằng là tục thế,
Bồng lai nào phải nước non nầy.

Thâu

Tư:

Tư lự không qua số mạng Trời,
Phải tìm cảnh tịnh mới an nơi.
Đưa chơn hiềm nỗi đời gai góc,
Khó nỗi đi tu khó ở đời.

Thâu

Mực:

Mực ngay khó nỗi đoán cây cong,
Biết chút công tu đặng thoát vòng.
Thế sự ép oan thêm buộc nghiệt,
Đời kia với Đạo chẳng so đồng.

Thâu

Lan:

Lan chung cỏ chạ ít ai tường,
Bởi kẻ hiền lương chác nỗi thương.
Thương mẹ thương cha thương chủng tộc,
Thương Tông thương Tổ hết Môn Đường.

Thâu

Quí:

Quí sang mặc kẻ võng dù riêng,
Phận bạc lo cho hết kiếp khiên.
Lớn thế tùy người là lớn chức,
Mình là phần khó khá tùy duyên.

Thâu

Võ:

Võ môn mấy lượt đã từng qua,
Nên nghiệp giang san bởi chữ hòa.
Định thế nên hư lòng chẳng đổi,
Đoán thời cách bức lánh chơn ra.
Nước non vùng vẫy đem thân gởi,
Vàng đá làu làu tấm thiết tha.
Ôm ấp gánh đời đời há biết,
Thương lang nước Thánh tấm thân già.

Thâu

Chỗ:

Chỗ hiền khá gởi mảnh thân sau,
Chẳng giữ Đạo nên phụ kẻ giàu.
Mấy mối oan gia còn trước mắt,
Chẳng ghê nghiệp chướng kiếp mình sau.

Thâu

Lễ:

Lễ kinh đã dạy kính nhường người,
Cái thói kiêu căng chẳng khó noi.
Bực Thánh Châu Công xưa vẹn đức,
Nếu kiêu đời chẳng gọi nên người.

Thâu.

Khuê:

Khuê tinh chiếu diệu tại Tây phương,
Phải biết ăn năn Đạo liệu lường.
Phẩm giá người cao sa xuống thấp,
Phải coi thời thế lánh tai ương.

Thâu

Sáng:

Sáng Trăng nhà nội chẳng hơn đèn,
Mặc kẻ cười đời tiếng để khen.
Múc biển dùng ngao thương trẻ dại,
Láo lua lấc xấc tánh từng quen.

Thâu

Nghĩa:

Nghĩa kia khá trọng quá hơn vàng,
Biết đặng mình sang ấy mới sang.
Dầu khó bữa mơi lo bữa tối,
Nghĩa gìn trọn Đạo ấy giang san.

Toàn thâu: 48 Nam + 14 Nữ + 7 Thổ = 69.



Viết bình luận...