Đạo Sử II

54. Ngày 11–01–1927 (âl. 08–12–Bính Dần): Ðức Thái Bạch dạy thi văn (Ðiệu văn Ðộng Ðình: Thái Cực) & thâu Môn Ðệ và dạy đạo.


Mardi 11 Janvier 1927 (08–12–Bính Dần).

THÁI BẠCH

Chúng đẳng ngồi kiết tường nghe dạy: Lão viết chậm, Thượng Phẩm Hiền Hữu dặn Sĩ Tải phải viết cho cẩn thận. Lịch rán đọc cho tử tế, bằng chẳng Lão đuổi ra ngoài… nghe à.

Điệu văn Ðộng Ðình của Lão dạy chư Tiên, chư Phật, sau có truyền cho Bạch Vân Đạo Sĩ gọi là Trạng Trình, song người học đặng có một điệu truyền thế gọi là điệu Bạch Vân. Lão lấy đề “Ngụ Đời” nghe.

NGỤ ĐỜI (Thái Cực)

Đời hằng đổi, nước non không đổi,
Giữ nhơn luân nhờ mối Đạo truyền.
Nhẫng lo trọng tước cao quyền,
Đem thân trần cấu gieo miền trầm luân.
Biệt cành lá rụng đầy rừng,
Con thuyền Bát Nhã lỡ chừng độ duyên.
Sắc,
Tài,
Tửu,
Khí,
Lưng vơi lấy chí anh hùng,
Mượn gươm Thần huệ dứt lần trái oan.
Vụ chữ nhàn….

Giải nghĩa: Thầy là cội, chúng sanh là lá…. Phải lấy chữ anh hùng hoặc nhiều hay ít mà dứt oan trái đặng tu tâm dưỡng tánh, hầu vụ chữ nhàn.

# Mardi 11 Janvier 1927 (08–12–Bính Dần).

THÁI BẠCH

Hỉ chư Đạo Hữu, chư Đạo Muội, chư Chúng Sanh, Miễn lễ… Bình thân. Thổ nhơn Nam và Nữ đồng nhập nội. Chư Sơn trước… toàn thâu… lui. Nữ phái thượng sớ.

Cân:

Cân câu tội phước sửa mình lành,
Cửa ngục Diêm Đình chẳng kể danh.
Thế cuộc như trò khoe mắt tục,
Tội tình khó rửa với khôn lanh.

Thâu

Rẩy:

Rẩy bái thà quen thú dốt mình,
Thà là giữa chợ lắm đua tranh.
Nên hư một kiếp nhờ gần gũi,
Kẻ thiện học gương đặng sửa mình.

Thâu

Kế:

Kế trăm chước khéo chẳng bằng hiền,
Tu bởi biết mình chuộng nết Tiên.
Mối Đạo đỡ nâng phàm hóa Thánh,
Căn xưa bồi sức giúp lòng Thiền.

Thâu

Vàng:

Vàng tuy quí giá chẳng bằng lòng,
Phật tự thuở chừ mến chữ không.
Ham lợi hiếp cô đâu phải Đạo,
Còn gầy oan nghiệt Đạo chi mong.

Thâu

Liêng:

Liên trì mai nở sắc sen sưa,
Cải ác ngày nay nghĩ cũng vừa.
Có vị đừng mê phàm mất vị,
Thiên Đình phải phận chịu dư thừa.

Thâu

Ðó:

Đó đăng phải giữ phận nghèo hèn,
Dầu có rách lành vụ tiếng khen.
Thanh bạch một lòng vì đạo hạnh,
Có khi lóng đục bởi nhờ phèn.

Thâu

Phượng:

Phượng thờ cha mẹ vẹn đôi bên,
Rán chuộc gái ngoan bởi nết hiền.
Chẳng đợi người khen Trời thấy bụng,
Họa may gỡ vẹn nợ tiền khiên.

Thâu

Bảy:

Bảy mươi chưa biết trọn mình lành,
Đừng thị khi đời ỷ miệng lanh.

Lui.

Nhạn:

Nhạn chiu chít phận một phương Trời,
Kêu bạn canh tàn chẳng mỏi hơi.
Đưa bóng tuyết càng thêm thắt dạ,
Thân lao lục chịu lắm mùi đời.

Thâu

Ý:

Ý chẳng phải tu đến hỏi đời,
Ta cho đặng kế thử lòng ngươi.
Có nơi chẳng tưởng gầy oán để,
Đem tiếng thị phi rải lắm lời.

Thâu

Nữ:

Nữ trung đã trọn một lòng thờ,
Trinh liệt giữ bền thuở bé thơ.
Nhơn Đạo đã xong lo phận Thánh,
Tham chi cuộc thế vọng rồi ngơ.

Thâu

Toàn thâu Nữ phái. Nam thượng sớ.

Ðâu:

Đâu là cửa Thánh với đâu phàm,
Mà cứ để lòng tính tứ tam.
Học thiện là nguồn gieo Chánh Đạo,
Nghe chi miệng quỉ luận tam xàm.

Thâu

Mẫn:

Mẫn thế khá tua tính ích đời,
Ích đời chẳng vụ một mình ngươi.
Mình ngươi đặng thỏa trăm người thiếu,
Thiếu sót lòng tu chẳng độ đời.

Thâu

Châu:

Châu về hiệp phố dễ ai hay,
Có đức tiếc cho chẳng có tài.
Nửa cánh gươm phơi gan tuấn kiệt,
Chậm chơn đợi gió thổi vân đài.

Thâu

Thiền:

Thiền cao chưa đủ đỡ muôn linh,
Như thuở Hạng Vương ở Bành Thành.
Chước khéo là thâu lòng với đức,
Xưa Tần vong nghiệp bởi không lành.

Thâu

Sơn:

Sơn là cao đã có lời rằng,
Ta thấy tên ngươi… nghiến răng.
Học hỏi chưa thông ngoài chái bếp,
Nhẫng lo cỡi phụng với đua tranh.

Lui.

Thay:

Thay đời chẳng phải một tên ngươi,
Thấy phách lối kia bắt nực cười.

Lui.

Hào:

Hào phú chưa ai dám sánh bằng,
Dầu nghèo mà giữ Đạo làm ăn.
Trời soi dạ thẳng trăm oan thoát,
Có lúc vinh huê bỏ nhọc nhằn.

Thâu. Sau trọng dụng. Toàn thâu, bỏ tên: Thiện, Đào, Đài.



Viết bình luận...