Đại Đạo Bí Sử

10- HUYỀN DIỆU CƠ BÚT


Vào lúc mới khai Đạo, người ta chưa trọn lòng tin nơi cơ bút. Hết người này thử đến người kia thử. Thậm chí những người gọi là đồng tử cũng chưa trọn tấc lòng tin. Ngay cả vị mà ngày nay được suy tôn sư tổ làng cơ bút đã phát biểu : ” Bần Đạo nhớ lại hồi buổi ban sơ mới khai đạo, Bần Đạo không có đức tin gì hết, không có đức tin đến nước Đại Từ Phụ tức cười. Bần Đạo nghe nói Tiên giáng đi theo nghe Thi chơi” . ( P.H.P ngày 17-8-Qúi Tỵ).

Ngài phò cơ với Đức Cao Thượng Phẩm nên thường cho Đức Cao Thượng Phẩm bày trò viết ra văn vẽ. Đức Cao Thượng Phẩm rất tức nhưng khó trả lời được. Một hôm tại chùa Vĩnh Nguyện Tự, cây cơ treo lên tường bỗng nhiên rung chuyển, Đức Cao Thượng Phẩm mới kêu ngài mà chỉ và nói :
– Tám, coi cây cơ qua đẩy hay nó tự chuyển ?
Ngài cười mà không đáp và cơ tự chuyển như vậy chắc chắn có các đấng muốn giáng đàn dạy việc.

***

Ông Lê Văn Lịch , chủ chùa đến bảo mấy ông rằng :
– Căn phòng này có ma, không ai dám nghỉ, hai ông có thể dọn sang phòng khác.
Nghe thế, Đức Hộ Pháp mới đi vòng quang quan sát căn phòng. Bất chợt ngài thấy một cây cột bị mối ăn lam nham. Ngài đến gần trông kỷ thì thấy có 4 đầu hình người quen thuộc. Ngài mới gọi Đức Cao Thượng Phẩm đến và bình nghị. Mới hay hình trên cùng là Đức Thượng Sanh, hình kế là Đức Cao Thượng Phẩm, hình có khôi giáp là Đức Hộ Pháp, hình cuối là Đức Giáo Tông Ngô Văn Chiêu.

Nên các ông chẳng chút sợ hãi và nghỉ luôn tại phòng đó. Ông Lê Văn Lịch ngạc nhiên hỏi, hai ông mới chỉ cho ông Lịch coi các hình. Ông Lịch lòng còn nghi. Khi Đức Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn ( tức ông Lê Văn Tiểng, thân sinh ông Lịch) giáng cơ bảo ông Lịch đến lấy quyển ống trên ghế thờ đọc lời di ngôn của Ngài : “Tôi xin dâng đệ tử ( tức Thái Lão Sư Trần Văn Thụ sau sắc phong Ngọc Chưởng Pháp) và con tôi (tức ông Lịch sau sắc phong Ngọc Đầu Sư ) cho nền Đạo mới”. Nhờ đó, ông Lịch mới thật sự tin theo Đạo.

***

Một đàn cơ khác tại Thánh Thất Liên Hoa Cửu Cung ( Thủ Đức) vào năm 1940, sau khi Đức Thượng Đế giáng, thì một vị hầu đàn ( Chủ tịch Hội Phật Học trứ danh ở miền Nam) liền qùi xuống dâng lên một cái khải ( mật sớ) trong đó viết 6 chữ ; “Nam Mô A Di Đà Phật” và cầu ơn trên minh rõ cái sớ ấy.
Đại Ngọc cơ chuyển động và viết : ” Thập nhị tùng lục”.
Người dâng sớ nói lớn : “Trật”. Đại Ngọc cơ chậm rãi viết :
– Thầy cho phép con khai các mật khải ấy và đọc lớn lên cho cả đàn cùng nghe.
Vị đó tuân lịnh, lấy làm đắc ý và đọc lớn : ” Nam Mô A Di Đà Phật”
– Con đếm xem mấy chữ ?
– 12 chữ
– À, 12 chữ ngày hôm nay là do 6 chữ xưa kia mà ra. Trật chỗ nào ?
Vị trên liền sụp xuống lại và xin lỗi.
Trong đàn cơ hôm đó, có tả quân Trần Văn Thành hầu chứng kiến đã được Đức Lý Thái Bạch thâu làm môn đệ từ mồng 7-01-Đinh Mão (1927) tại chùa Gò Kén như sau :

Sau khi học cơ bút với Ngài Trương Hiến Pháp, TVR và NLT phò loan được nội tổ giáng cho bài tứ tuyệt :

Trần Văn Thàng Tả quân của Thần Hoàng Trần Văn Xương . Trong bài thi, Đức Lý đã tiên tri Trần Văn Thàng thần trong Ban Chư Thần bảo vệ Toà Thánh mà Trần Văn Xương là Thượng Đẳng Thần ( trong quyển Bát Đạo nghị định, Trần Văn Xương là giáng cơ trước tiên nói lên ý nầy). Còn tả quân Trần Văn Thàng được Đức Lý cho mượn gươm tiêu trừ tà ma ” Bình thế tục” để “đưa thuyền Bát Nhã” khỏi vòng vây cô hồn. Như vậy, nhiệm vụ của tả quân là bảo vệ các thuyền Bát Nhã đưa linh cửu đến Cực Lạc thổ an toàn.

Trong buổi đầu khai đạo rất nhiều huyền nhiệm. Tiếc rằng, sự mầu nhiệm đó kéo dài không được lâu.