Đại Đạo Bí Sử

11- ĐỀN THỜ PHẬT MẪU TƯƠNG LAI


Báo Ân Từ nằm trên Đại lộ Phạm Hộ Pháp hiện nay chỉ là Đền Thờ Phật Mẫu tạm. Đền Thờ chính định cất trên khoảng đất rộng 4 mẫu, trước cửa Hòa Viện (cửa số 1) lộ Bình Dương Đạo ( Đại lộ Phạm Hộ Pháp nối phần ngoại ô Toà Thánh) . Vào năm Nhâm Thìn ( 1952) nhân dịp sửa chữa lại Báo Ân Từ tạm gọi là nơi thờ Phật Mẫu, Đức Hộ Pháp có chỉ vẽ các công quả thợ hồ đắp các pho tượng sau :

Đức Hộ Pháp dạy về việc đắp chơn dung như sau:
” Hình của Đức Phật Mẫu đắp theo hình chưng cộ bông Cửu Nương lần đầu tiên, vào tháng 8-Đinh Hợi Thầy đã chỉ cho Chí Thiện Trạch, Trần Phong Lưu và Tá Lý Kia cất giữ coi theo đó mà làm mẫu. Hồi đó mượn bức tranh của bà phối sư Hương Hiếu và sự tích đời Hán Võ Đế bên Tàu.
Đức Phật Mẫu có từ thuở khai thiên do khí âm dương tạo thành, có quyền năng vô đối, vô biên, vô lượng cũng như Đức Chí Tôn, hữu hữu, vô vô, nắm trọn bí pháp nhiệm mầu của càn khôn vũ trụ. Chớ không phải là bí pháp biến thành thể pháp do hiện tượng sự tích đời Hán Võ Đế”.
Đó chỉ là mượn ý tạc hình, chớ Phật Mẫu vốn vô vi.
Thanh Loan là chim lịnh của Đức Phật Mẫu, luôn báo tin trước nơi nào có Đức Phật Mẫu giá lâm, hay chu du càn khôn thế giới.
Theo nhà điểu học Nhật Bản Hachisuka đã viết về hai thứ chim mà Trung Hoa và Nhật bản gọi là phượng (trống) và loan (chim mái) : ” Vì sự tương tự nhau, người ta thường lầm hai thứ chim phượng và loan. Thật sự phượng là giống chim thanh cao, ưu thích âm nhạc tượng trưng cho điềm lành, giống chim này chỉ xuất hiện để báo hiệu Thánh nhân ra đời, nên phụng gáy kỳ sơn thì Văn Vương ra đời. Loan cũng là giống chim ngũ sắc nhưng sắc xanh nhiều hơn. Con chim phụng lông cũng ngũ sắc nhưng sắc đỏ nhiều hơn .

Đức Phạm Hộ Pháp nói về việc cầu Phật Mẫu của Hán Võ Đế như sau :
“Tiết Trung thu, rằm tháng 8 năm Ngọ, đầu giờ Tý, vua Võ Đế qùi trước chùa thành tâm cầu khẩn. Đúng 12 giờ thanh loan đáp trước sân Hoa điện. Vua thỉnh Đức Phật Mẫu ngự tại chánh điện.
Đức Phật Mẫu dạy 4 vị nữ nhạc trao 4 quả đào tiên. Đông Phương Sóc và Hán Võ Đế qùi rước lộc.”
Sự tích đó lưu truyền đến bây giờ.

Việc tạc hình Đức Cao Thượng Phẩm thay cho Hán Võ Đế, Đức Ngài : giải thích :
“Nguyên căn của Hán Võ Đế là Hớn Chung Ly ( trong hàng bát tiên ) giáng sanh thành lập quốc gia. Kỳ hạ ngươn này, Đức Cao Thượng Phẩm cũng là chơn linh của Hớn Chung Ly tái thế lập thành quốc Đạo, nên tạc hình Đức Cao Thượng Phẩm thuận hơn”

Còn tấm tường phía ngoài đối diện với các tượng của Cửu Vị Nữ Phật, thì Đức Ngài cho tạc hình Nam Bình – Dương Phật.

“Chừng nào có đền thờ Phật Mẫu thì Thầy cho biết không gì lạ. Vì Đền Thánh tượng trưng cho Bạch Ngọc Kinh tại thế, có hình Hộ Pháp mặc Thiên phục Khôi giáp; thì nơi Đền thờ Phật Mẫu tượng trưng Lôi Aâm Tự, lẽ dĩ nhiên tạc hình của Ngài, nhưng không mặc Thiên phục, chỉ mặc áo cà sa mà thôi.”

“Từ lúc tay nắm đạo quyền” Đức Cao Thượng Sanh tiếp tục xây dựng để hoàn thành kiến thiết cơ bản. Ngài hoài vọng xây Đền Thờ Phật Mẫu, nên chấp bút học hỏi, được Bà Bát Nương dạy :
“Nơi nào trong vùng Đạo không là Thánh Địa ? Sân đình núi Bà, phần đất gần Hàm phong cạnh cửa số 7 Nội ô, đều có thể chọn xây Đền mới được”

Vì theo Đức Cao Thượng Sanh, phần đất trước cửa Hòa Viện ngày nay nhơn sanh ở dày đặc, khó giải tỏa, nên Bà Bát Nương giáng dạy như trên và còn cho biết kích thước Đền thờ mới như sau :
Về kích thước bằng kích thước Đền Thánh về các Đài thì tổng hợp giữa Đền Thánh và Báo Ân Từ, nghĩa là mặt tiền Đền Thờ Phật Mẫu giống như Báo Ân Từ, có khác hơn : Đài giữa gọi là Lôi Aâm Tự cao bằng lầu chuông, trên đỉnh có 3 vòng Tam Thanh. Ngược lại hai đài hai bên thì thấp hơn 6 thước mà hình trụ cụt giống như lầu chuông bị cắt ngang (xem hình). Đài bên phải xây vườn Ngạn Uyển hình mặt nhựt, bên phải xây Ao Thất Bửu hình mặt nguyệt (bên phái nữ). Bốn góc có 4 hình trụ, đỉnh hình cầu giống như đền Hồi giáo (xem hình).

Vườn Ngạn Uyển phải trồng đủ 12 sắc hoa tượng trưng 12 con giáp. Ao Thất Bửu phải cẩn đủ 7 loại báu qúi : pha lê, xà cừ, châu, ngọc, vàng, bạc, đồi mồi .

Ở mặt sau, nơi thờ Phật Mẫu cũng xây Đài Bát Giác như Bát Quái Đài, nhưng gọi là Tạo Hóa Thiên hành khiển Bát hồn vận chuyển hóa thành chúng sanh , trên đỉnh có tượng Tam Thánh Bạch Vân Động là Thanh Sơn Đạo sĩ, Nguyệt Tâm Chơn Nhơn và Tôn Trung Sơn. Bên ngoại là hình bát giác có 8 chữ Hán : Thạch, Mộc, Thú, Nhơn, Thần, Thánh, Tiên, Phật, bên trong nội tiếp đường tròn ( hình trụ trơn) chữ vòng vô vi của Phật.

Toàn thể bên ngoài sơn toàn một màu trắng. Màu Đạo, khi các con về chầu Mẹ đều mặc đồ toàn trắng trừ mái ngói đỏ, xung quanh không được vẽ hình chi.
Bên trong Đền Phật Mẫu vẫn trần khiết cách thờ như cũ. Từ Nam Bình Dương Phật đến tượng Phật Mẫu phải có đủ 8 bậc tượng trưng Bát Cảnh Cung. Đền Thánh có 9 bậc là Cửu Thiên khai hóa.

Tấm vách sau lưng Nam Bình Dương Phật , tức mặt trước thì tạc tượng “Thiên Cơ Chuyển hóa” tức lấy sự tích trong 9 bài kinh Cửu mà Hội Thánh Phước Thiện đã vẽ và đã cho xuất bản.

Tóm lại, Đền thờ mới vẫn gọi là Đền Thờ Phật Mẫu mặt tiền có 3 lầu, cao nhứt là Lôi Âm Tự, hai bên có Ao Thất Bửu và Vườn Ngạn Uyển. Tấm vách dưới Lôi Âm Tự có tạc tượng ” Thiên Cơ chuyển hóa” ( chỗ mà Đền Thánh tạc tượng Tam Thánh).

Cung thờ Phật Mẫu gọi là Tạo hóa Thiên, đối diện với tượng Phật Mẫu là Nam Bình Dương Phật.

Sau đó, Đức Cao Thượng Sanh giải thích thêm.
Khi Đền Thờ Phật Mẫu cất xong, việc thờ phượng dời đến cơ sở mới thì Báo Ân Từ được sắp xếp lại cho đúng chơn truyền .

Chỗ cũ thờ Phật Mẫu đắp một quả địa cầu sơn màu xanh, trên có đắp hình nước Việt Nam theo chiều dài sơn màu vàng. Tất cả nằm trên nền trắng hình chữ nhựt. Ơû dưới có đặt ghế thờ bài vị hoặc hình ( không đối tượng), các hiền triết, các nhà bác học, các bậc vua chúa có công với nhân loại. Vì tất cả chúng sanh đều do Đức Chí Tôn phân tánh giáng sanh, tuy họ có lập trường có chủ nghĩa khác nhau. Đó chỉ là luật mâu thuẫn để tiến hóa,như có kẻ ác mới rõ người thiện, không có mâu thuẫn đấu tranh thì xã hội không tiến bộ.

Bên trên nền trắng để 4 chữ màu đỏ : “ÐẠI ĐỒNG CHI PHÁP ” đó là tôn chỉ của Đạo Cao Đài : Đại Đồng Thế giới do luật pháp Thiên triều đã qui định.

Bên gian trái trên nền trắng đề 4 chữ Hán : “HẢI NGOAÏI CHI THẾ” để thờ chơn linh các bậc Thánh nhân, hiền triết, anh hùng nước ngoài. Các chức sắc chi thế cũng được thờ đây khi đã qui vị.

Bên gian phải, trên nền trắng đắp 4 chữ Hán : “QUỐC NỘI CHI ÐẠO” đó là mục đích của Đức Chí Tôn lập nền quốc Đạo buổi đầu. Gian nầy thờ các nhà cách, chiến sĩ vô danh, các anh hùng hào kiệt nước Việt Nam, các chức sắc chi Đạo cũng được thờ nơi đây khi đã qui vị .

Báo Ân Từ ( có tượng Nhị Thập Tứ Hiếu) là nơi vẫn trần thiết các lễ như từ trước tới nay thuộc quan, hôn, tang, tế hoặc các ngày giỗ chung v.v…

Đức Phật Mẫu đã dạy : “Đạo chia ra ba chi : Thế, Pháp, Đạo. Mình tu cho đúng theo luật, chúng sanh ca tụng công đức là mình đắc thế. Hễ đắc thế thì phải tầm pháp. Nếu hành pháp hiển linh thì đắc đạo, nhập cõi Niết Bàn”

Về việc tiếp nhận Kinh Đức Phật Mẫu thì Đức Hộ Pháp giảng như sau :
“Kinh Phật Mẫu cho tại Kiêm Biên ( Cao Miên) với Báo Ân Đường của Thừa Sử Huỳnh Hữu Lợi ….Bần Đạo đến nhằm lúc cúng vía Đức Phật Mẫu. Bát Nương đến cầu cơ viết có nhiều người làm chứng. Các Đạo hữu và một người không biết Đạo là gì. Đó là ông Hiếu ngồi trước sân chơi. Họ thấy tứ phía đều có hào quang giáng hạ, xẹt xuống Báo Ân Đường. Tới chừng trọn bài kinh rồi cả thảy ( người ngoài sân) đều nói không biết cái gì xẹt khi nãy xẹ qua xẹ lại, không dè trong nhà (Báo Ân Đường ) đương phò loan.”

Như vậy, Phật Mẫu chơn kinh do chính Bà Bát Nương giáng cơ cho tại Cao Miên.