1 – Thượng Đế là đấng tạo ra Càn Khôn, Võ trụ và hóa sanh vạn vật. Nhơn loại phải tin tưởng kính trọng Thượng Đế và trong các hành động, nhứt nhứt phải tùng Thiên luật.
2 – Là Đại Từ Phụ, Thượng Đế không bao giờ hành phạt chúng sanh toàn là con cái yêu đương của Ngài. Nhưng vì phép công bình, Thượng Đế lập luật “Nhơn quả” làm cân thưởng phạt thiêng liêng. Chúng sanh do chỗ hành động mình mà rước lấy họa phước.
3 – Lòng từ bi của Thượng Đế không nỡ để chúng sanh không rõ Thiên điều mà phạm tội, nên từ Thượng cổ, Ngài đã phân tánh giáng trần lập Đạo, đặng dạy dỗ chúng sanh biết điều thiện mà làm, điều ác mà lánh, mà dìu dẫn bát phẩm chơn hồn tiến hóa lên đến chỗ cực điểm. Nhưng, nếu lòng người mê muội, không hồi đầu giác ngộ, thì hình phạt phải cam.
4 – Thượng Đế chưởng quản Càn Khôn Vũ trụ. Thiên triều gồm có Đấng Trọn lành phụ sự trong cuộc chưỡng quản ấy.
5 – Luân hồi là cơ tấn hóa của bát phẩm chơn hồn. Trong mỗi kiếp tái sanh, các Chơn linh gây ra nghiệp duyên, nên tái sanh buộc phải thọ quả. Vì vậy mà Luân hồi và Quả báo đi đôi.
6 – Thần, Thánh, Tiên, Phật trước vốn là người phàm, nhờ tu mà đắc quả (1). Vậy thì, tất cả phàm nhơn, ai cũng có thể làm Tiên, Phật, nếu biết tu, nhứt là gặp “Tam Kỳ Phổ Độ”, ban hành luật Đại ân xá, chúng sanh được may mắn “tu nhứt kiếp, ngộ nhứt thời.”
7 – Phàm nhơn là Hồn tại thế, Âm nhơn là Hồn giải thể, cho nên Phàm nhơn và Âm nhơn có thể thông công bằng cơ bút, đồng cốt, hoặc phương thế nào khác.
Người tu luyện đến bực cao siêu có thể xuất Chơn thần thông công với các đấng Thiêng liêng, hoặc luyện đắc “Nhãn thông” và “Nhĩ thông” mà thấy và nghe được Âm nhơn. (2)
8 – Vật chất tan rã rồi hợp thành một thể chất khác, duy chư Hồn là trường tồn và tuần tự tấn hóa đến mực cuối cùng là chỗ chí thiện.
9 – Âm nhơn mới giải thể còn quyến luyến hồng trần, chưa thoát được buồn vui đau khổ, bởi còn mang cái chơn thần là tạng chứa tình cảm (3). Âm nhơn cần có thân nhơn tụng kinh cầu nguyện cho họ được an ủi mà bớt đau khổ.
Kinh cầu siêu (4) rất linh nghiệm vì mỗi tiếng tụng lên vốn có sức rung động huyền diệu vô cùng. Sức rung động ấy, hiệp với sức tư tưởng mạnh mẽ và thành kỉnh của người tụng kinh (5) gây thành một mãnh lực phi thường đánh tan Chơn thần của Âm nhơn, giúp cho họ mau giải thoát đau khổ và hình phạt thiêng liêng, đặng đi đầu thai sớm được.
10 – Con người thọ sanh tại thế đều có số mạng định đoạt do nghiệp duyên của mình đã tạo ra trong kiếp trước. Cho nên người biết đạo bao giờ cũng an phận tùy duyên, chẳng vì nghèo túng mà trễ nải việc đạo.
Nếu con người biết chuyên làm lành lánh dữ cùng tu âm chất trong kiếp đương sanh, thì có thể chuyển họa ra phước. Định mạng là Trời mà lập mạng là Ta vậy.
11 – Tân luật có ảnh hưởng rất lớn lao về Tiên phong Phật sắc của người tu trong Đại Đạo; chẳng giữ “Tân luật” là trái phép Đạo, mà trái phép Đạo, không bao giờ vào được Bạch ngọc Kinh.
12 – Muốn đắc quả, phải dự thí ở trường thi “Công quả” nghĩa là phải phổ độ chúng sanh. Không làm đặng thế nầy, phải tìm thế khác mà làm âm chất thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt được phẩm vị thiêng liêng.
(1) Ngoại trừ các đấng Tiên, Phật của Thượng Đế hóa ra từ khi khai Thiên tịch Địa để giúp Ngài trong công cuộc khai hóa.
(2) Không phải nghe thiệt tiếng mà chỉ nghe cái âm ba của tư tưởng.
(3) Nhiều Âm hồn còn oán giận, mong tìm cách phá khuấy kẻ thù mà báo oán
(4) Đại Đạo có “Di lạc Chơn Kinh” là kinh cầu siêu rất quí.
(5) Người tụng kinh phải là một vị đạo đức chơn tu, mới có tư tưởng mạnh mẽ và kỉnh thành. Đồng nhi tụng kinh cũng tạm được, vì là Chơn linh còn trong sạch và vô tội.
CHUNG