Sự tiếp xúc của cảnh vô hình với cảnh hữu vi
Cơ là vật dùng để thỉnh Tiên, làm bằng tre đan như cái giỏ dài; ngoài phất giấy vàng, có cán; trước cán thường khắc đầu chim loan; một cây cọ bằng mây hoặc bằng tre cắm trước cán để viết trên ván hay trên cát.
Người chấp cơ, gọi theo danh từ thông thường là đồng tử (médiums). Đại Đạo “T.K.P.Đ.” gọi chức sắc Hiệp Thiên Đài (Corps des médiums).
Đồng tử là người có đặc khiếu xuất Chơn thần ra khỏi phách, đến hầu Thần Tiên mà nghe dạy bảo bằng cách chuyển di tư tưởng (transmission de la pensée), rồi nhờ linh điển Thần Tiên giáng hiệp với nhơn điển đồng tử làm cho cánh tay cử động mà diễn giải tư tưởng ra bằng văn tự.
Có hai thứ đồng tử: đồng mê và đồng tỉnh.
Chấp cơ mà mê Chơn thần xuất trọn (Chơn thần vốn còn dính với phách bởi sợi từ khí) khỏi phách, tiếp được rõ ràng tư tưởng của Thần Tiên, nên diễn ra nhiều thi phú văn chương tuyệt diệu, hoặc nhiều bài đạo lý cao thâm, nhưng mãn đàn, Chơn thần phải mệt mỏi.
Ngày xưa, các nhà văn nho hay lập đàn Tiên trên non cao thanh vắng, và dùng đồng mê. Tiên thường giáng cho nhiều bài thi tuyệt bút với khí vị Thần Tiên hoặc có tánh cách tiên tri, song ý nghĩa ẩn vi khó hiểu, đợi việc xảy ra rồi mới thấy rõ. Có khi giáng cho toa chữa bịnh thiệt là linh nghiệm. Nhưng cách cầu cơ ấy rất khó: đàn nội phải thanh tịnh, một tiếng gà gáy, chó sủa, một khua động bất thường đủ làm cho Chơn thần hoảng hốt nhập về phách. Thế là đàn cơ lở dở.
Chấp cơ mà tỉnh, chỉ có một phần Chơn thần xuất ra nên tiếp tư tưởng không được rõ ràng: bài chấp cơ thường khuyết điểm, nhưng được tiện lợi là không buộc phải thiết đàn chốn non cao thanh vắng, và khi mãn đàn, Chơn thần đồng tử ít mệt.
Thần Tiên lại tùy đặc khiếu của đồng tỉnh mà truyền tư tưởng bằng cách giáng tâm (médiums intuitifs) hay giáng thủ (médiums mécaniques).
Đồng tử giáng tâm tuy chưa viết ra mà thần trí biết trước mang máng những lời sắp viết ra, tựa như tự mình đặt để ra.
Đồng tử giáng thủ tựa như bộ máy, tay cứ chìu theo điển lực cử động viết ra, không hay biết chi hết.
Lập đạo kỳ ba nầy, Đức Thượng Đế dùng đồng tỉnh mới tiện cơ phổ độ. Nếu dùng đồng mê, người chấp cơ đâu đủ lực lượng tinh thần đặng chịu nổi đêm nầy sang đêm khác, và luôn luôn như vậy mấy năm trường.
Lại mỗi đàn cơ, Đức Chí Tôn dùng hai người phò loan cho đủ Âm Dương hiệp nhứt, là cơ sanh hóa của đạo. Người chấp bên hữu (Bắt ngoài ngó vô) (thuộc Âm) tiếp tư tưởng rồi truyền qua người bên tả (thuộc Dương) tiếp điển viết ra.
Còn chấp bút thì đồng tử, song bút pháp chỉ dùng tiếp mật lịnh và bí truyền, chớ không dùng về cơ phổ độ.
Thủ cơ và chấp bút là cách thông công gián tiếp với các đấng Thiêng Liêng. Lần lần người tu đến cao siêu đắc nhãn thông và nhĩ thông, thì sẽ trực tiếp thông công, khỏi phải nhờ trung gian là cơ bút nữa.
Vả chăng, cơ bút là việc tối quan trọng, vì lẽ tà chánh khó phân, nên chi Đức Chí Tôn có dạy:
“Cơ bút là việc tối quan trọng. Nếu không có chơn linh quí trọng thủ cơ, thì tà quái xen vào khuấy rối các con, làm cho phải thất nhơn tâm.
Thầy nói cho các con biết bực Chơn Thánh mà phải đọa trần, nếu không đủ tánh chất dìu dẫn nhơn sanh, cũng chưa đáng cầm bút cho Thầy truyền đạo.”
Trung giới có nhiều hạng Âm linh (Các bực Âm binh ấy đại loại là: các vì Thánh, Chánh thần. Tà thần, Bát bộ quỉ loại, vong linh của thường nhơn, nhơn phách và thú phách ly trần), mà hạng nào, thanh hay trược, thiện hay ác cũng phụ cơ được hết. Vậy, tránh sao khỏi chánh tà lẫn lộn? Vẫn biết pháp đàn (người chứng đàn) phải biết biện phân, phán đoán thiệt hư, nhưng với trí phàm hữu hạn, dễ gì tránh khỏi sai lầm?
Đồng tử chưa minh chỉ tiếp xúc với Âm linh hạ đẳng mà thôi. Một điều quan trọng nữa là người thủ cơ hay chấp bút mà không đại tịnh để dứt vọng niệm, thì chỉ viết ra những tư tưởng chứa sẵn trong thần trí, kỳ thiệt không Âm linh nào giáng.
Chúng ta biết tư tưởng vốn biến thành hình (forme pensée) và sống một thời gian lâu hay mau tùy sức tư tưởng mạnh hay yếu. Đồng tử cần phải diệt hết tư tưởng thấp hèn về bản ngã và cá nhân; lúc nào cũng phải giữ cho cõi Tâm an tịnh chớ chẳng đợi tới khi chấp cơ.
Ví dụ đồng tử có một dục vọng gì. Dục vọng ấy chưa thỏa mãn thì nó vẫn còn nuôi nấng trong Chơn thần; nó tượng nên hình như cái thai trong thai bào, càng lâu càng lớn, đợi đến ngày tháng (đến khi có dịp) là sanh ra.
Đến khi đồng tử chấp cơ, dẫu rằng lúc nầy rán giữ đại tịnh không sanh vọng niệm mới, nhưng cái vọng niệm cũ kia đã tượng nên hình, bấy giờ có dịp sanh ra (Vì vậy mà, cũng một đồng tử chấp cơ, có bài “Thánh huấn” làm cho chúng ta kỉnh phục vô cùng mà cũng có bài làm cho chúng ta chán nản. ).
Ở trường hợp nầy, đồng tử tự bị tư tưởng mình ám thị, nên gọi “tự kỷ ám thị” (autosuggestion).
Chẳng những vậy thôi, mà những người hầu đàn nếu họ có tư tưởng mạnh, tư tưởng ấy có thể chuyển đi qua Chơn thần đồng tử, nếu đồng tử có “cảm thụ tánh” (suggestibilité) nghĩa là cái tánh dễ bị ám thị (suggestion).
Duy có đồng tử tiền định (médiums prédestinés), mới thông công được với các đấng Thượng đẳng Thiêng liêng, thì cơ bút mới huyền diệu. Tuy nhiên cũng không khỏi “tự kỷ ám thị”, chẳng nhiều thì ít.