Chủ nghĩa của Đại Đạo là dìu dẫn nhơn sanh trên hai con đường tương đối xử thế và xuất thế.
Xử thế có hai yếu tố: luân lý và triết lý.
Về luân lý, Đại Đạo dạy người đời những nghĩa vụ đối với mình, đối với gia quyến, đối với xã hội là cái gia quyến rộng lớn, đối với tất cả chúng sanh là cái gia quyến đại đồng.
Về triết lý, Đại Đạo dạy người đời nên khinh thường cái vinh hoa phú quí, xa lánh những sự xa hoa, tóm lại là phải thoát ly những ràng buộc không cần yếu về đời sống vật chất để cần yên ổn tâm thần.
Xuất thế cũng có hai yếu tố: tín ngưỡng và tu hành.
Về tín ngưỡng, Đại Đạo dạy tin có Trời là Chúa tể vạn vật; có Thần, Thánh, Tiên, Phật là các đấng Thiêng liêng cao khiết, có Linh hồn là thiêng liêng bất diệt, có luân hồi và cơ tấn hóa của chư Hồn, có Nhơn quả là Luật công bình thưởng phạt.
Về tu hành, Đại Đạo dạy tất cả bổn đạo từ tín đồ đến chức sắc lưỡng phái, phải tùy địa vị mình mà phổ độ chúng sanh, đặng lập công quả là nấc thang bước lên phẩm vị thiêng liêng, và phải tuân theo luật Đạo mà trau dồi đức hạnh, thủ giới trì trai, hàm dưỡng tinh thần, tu tâm luyện tánh.
Yếu điểm của chủ nghĩa Đại Đạo, dầu xử thế hay xuất thế, là Bác ái và Chí thành.
Đức Chí Tôn có dạy: “Đạo gốc tại lòng bác ái và chí thành. Bác ái là lòng đại từ đại bi, thương xót sanh linh hơn thân mình. Cho nên kẻ có lòng bác ái coi mình như mảy lông, mà coi thiên hạ trọng bằng trời đất. Còn chí thành là lòng thành thật đem đến cực điểm mà đối đãi ngoài đời và trong đạo”.
Nhơn loại phần nhiều cũng bởi cái lòng vị kỷ mà hành động bất công. Kẻ tham trộm là bởi quí trọng tài lợi mình mà không quí trọng của thiên hạ, vì vậy mới tính lấy của người bồi bổ thêm của mình; yếu thế, thì gạt lường trộm cấp; mạnh thế lại ép đè, bốc lột, có khi còn hại đến mạng người là khác.
Phàm ăn thịt một con vật là đem huyết nhục nó bổi bổ cho huyết nhục mình, tức là trọng sanh mạng mình mà không trọng sanh mạng con vật. Như hai đàng chiến đấu, bên nào cũng đem hết lực lượng, tìm hết cách tiêu diệt đối phương thì đàng nào cũng trọng mạng mình mà không trọng mạng bên nghịch.
Lòng vị kỷ gia hại cho nhơn quân xã hội sở dĩ là vậy. Nay muốn tiêu trừ cái hại ấy, cần nhứt phải làm thế nào cho thiên hạ, ai ai cũng có cái lòng bác ái. Chẳng những chúng ta thương ông bà cha mẹ, cùng họ hàng quyến thuộc, mà còn phải thương rộng ra đến cả mọi người chẳng luận người nước nào, dân tộc nào. Lại chẳng những chúng ta thương cả nhân loại, mà còn phải để lòng thương lan rộng ra cho tất cả loài sanh vật khác.
Nhà triết lý Fichte người Đức và nhà văn hào Tolstoi người Nga, cũng đồng khuyên chúng sanh thương người như thương mình và hơn nữa, thương người hơn cả mình. Ở Chúa Giê Giu, lòng bác ái lại bồng bột hơn. Lòng bác ái của Chúa không phải hạn chế ở chỗ giúp đỡ, ban phước và giải nạn, mà còn tự đem mình chịu khổ tử hình để cứu chuộc tội lỗi cho cả chúng sanh.
Lòng bác ái của Phật Thích Ca vốn vô lượng vô biên, đến nỗi tự thí thân đặng giúp món ăn cho con hổ cái mới đẻ, vừa đói vừa mệt, trong cơn túng cùng, sắp sửa ăn thịt con. Lòng bác ái của đức Khổng Tử gốc ở điều nhân, mà đạo Nhân là đạo lấy sự thương người làm trọng. Theo Đức Thánh, Trời vốn có đức háo sanh, gầy dựng muôn loài cho đặng tốt đẹp, đồng đức nhau. Con người vốn ở trong muôn loài tất phải thể theo ý Trời mà thương đều muôn vật.
Một hôm, vua nước Sở đi săn, dọc đường đánh mất cây cung. Quần thần theo hầu cố xin tìm lại cho được. Nhà vua phán: “Người nước Sở đánh mất cung, một người khác nước Sở sẽ được, có thiệt chi đâu?” Việc nầy thấu tai đức Thánh, Ngài than: “Rất tiếc cho chí vua Sở còn hẹp. Cần gì phải nói là người nước Sở? Giá nói: “Người nầy đánh mất cung, người khác sẽ được”, thì có hơn không?
Theo Đức Thánh lòng bác ái phải lan rộng khắp cả người thiên hạ trong bốn bể năm châu, chớ không nên hạn định trong một xứ, một nước nào cả. Lòng bác ái, cũng như tôn giáo không quốc giới.
1- Tại sao chúng ta thương cả nhơn loại? Trên mặt địa cầu nhơn loại sở dĩ chia ra nhiều giống, là tại phong thổ cùng khí hậu mỗi xứ khác nhau, song chẳng qua khác nhau về hình thể bề ngoài; về thiêng liêng thì ai cũng đồng thọ của đấng Tạo Hóa mỗi điểm linh quang tức là Hồn nhờ đó mà sanh sống mà tri giác.
Đức Chí Tôn đã dạy:
“Thầy thường nói với các con rằng Thầy là Cha của sự thương yêu. Do bởi thương yêu, Thầy mới tạo thành thế giới và sanh dưỡng các con. Vậy thì các con sản xuất nơi sự thương yêu. Sản xuất nơi sự thương yêu, các con tức là cơ thể của sự thương yêu. Ấy vậy sự thương yêu là giềng bảo sanh của Càn Khôn Thế Giới. Bởi thương yêu mà vạn loại hòa bình, Càn khôn an tịnh, mới không thù nghịch nhau. Không thù nghịch nhau, mới không tàn hại nhau. Không tàn hại nhau mới giữ bền cơ sanh hóa. Còn kẻ nghịch cơ sanh hóa là ai? – Là Quỉ vương đó. Quỉ vương vốn là tay diệt hóa. Cũng như có sống của Thầy, ắt phải có chết của Quỉ vương. Quỉ vương lấy cơ thể nào mà tàn hại các con? – Ấy là sự ghét. Vì ghét nhau, vạn loại mới nghịch lẫn nhau. Nghịch lẫn nhau, mới tàn hạïi lẫn nhau. Mà tàn hại lẫn nhau, là cơ diệt thế. Vậy, Thầy cấm các con từ đây, nếu không đủ sức thương yêu nhau, thì cũng chẳng đặng ghét nhau.”
Tóm tắt bài Thánh huấn nầy, chúng ta có thể nói:
“Thương người, thương vật là gần Trời.
“Ghét người, ghét vật là gần Quỉ.”
2- Tại sao chúng ta thương cả sanh vật? Cầm thú, tuy không biết nói, chớ cũng biết đau đớn, thương yêu, đoàn thể và tình nghĩa như người. Vả, kiếp nầy chúng ta được sanh làm người, chớ trước kia, chúng ta cũng trải qua nhiều kiếp làm con vật. Thế thì người và vật vốn đồng nguyên chỉ khác nhau ở chỗ tấn hóa trước sau mà thôi. Sanh vật tức là đàn em của chúng ta đương còn tuần tự theo chơn nối gót chúng ta trên đường tấn hóa.
Ở đời, có nhiều kẻ vì lợi quyền, vì danh vọng mà cố đặt mình lên địa vị cao cả hơn người. Vậy mới tính trăm mưu ngàn kế để riêng giành hạnh phước cho mình. Cái lòng tham muốn đã lên đến cực điểm, thì còn kể chi đến công bình? Thành ra, trong việc cư xử với đời thường mất tín thành. Làm người mà không tín thành là mất hẳn nhơn cách; mình đã tự dối mình dối lương tâm mình, mà còn tự đặt mình xuống thấp hơn những người bị mình lừa dối.
Đức Chí thành là nguồn gốc tất cả đức tánh, cho nên con người mà chẳng lo ung đúc được chí thành là nguồn gốc, thì mong chi trau dồi đức hạnh khác là nhánh nhóc? Đức chí thành tỷ như một khối vàng ròng dùng chế tạo ra lắm đồ trang sức tốt xinh cao giá. Chí ư khối vàng ấy phải pha trộn cho mất nguyên chất đi, bảo sao những trang sức do đó làm ra chẳng xấu hèn thấp giá?
Lão Tử có câu: “Người có tín thành như xe có bánh, người quân tử thốt ra một lời như ngựa hay bị chạm một roi; một lời đã nói ra, bốn ngựa cũng khó theo kịp.” (Nhơn nhi hữu tín như xa hữu luân, quân tử nhứt ngôn, khoái mã nhứt tiên; nhứt ngôn ký xuất, tứ mã nan truy).
Người xưa tuy quê hèn, nhưng giữ được tín thành, đối đãi nhau không bao giờ giả dối. Một tiếng ừ cầm đáng giá ngàn vàng, một lời hứa khư khư nắm giữ. Người nay tuy văn minh tấn bộ, song kém tín thành, đến nỗi việc làm mà có nhiều kẻ chung lo, thường hóa ra hư hỏng. Đức chí thành rất cần yếu cho sự thành công. Không thành thật, thì không phát hiện được sự gì thiết thực (Bất thành, vô vật).
Khi tụng nguyện, nếu không chí thành, tụng nguyện luống công vô ích. Phải có thành mới có cảm, có cảm mới có ứng, có ứng mới có nghiệm (Hữu thành tắc hữu thần). Phàm muốn chí thành, trước phải thành thật với mình, sau mới thành thật với người khác. Thành thật với mình là lấy công tâm xét đoán mình: từng lời nói từng ý tưởng, từng hành vi của mình, nhứt nhứt phải xét xem gắt gao kỹ lưỡng, để nhận thấy chỗ hay chỗ dở. Phải đủ can đảm nhìn nhận lỗi mình và phải biết phục thiện mới đến được chỗ hay.
Thành thật với người là tránh xa vọng ngữ, xảo trá, tham lam dua mị, là những tánh xấu xa, thô bỉ thường làm cho đức tánh con người phải tối tăm mà che lấp lẽ công minh. Tuân Tử có câu: “Công bình sanh sáng tỏ, thiên lịch sanh tối tăm; làm việc đức sanh thông suốt, làm việc giả dối sanh ngăn lấp; thành tín sanh linh nghiệm còn khoe khoang xảo trá thì sanh lầm lạc”. (Công sanh minh, thiên sanh ám, tác đức sanh thông, tác ngụy sanh tắc, thành tín sanh thần, đoản khoa sanh hoặc.)
Tóm lại, hoàn toàn thành thật với mình, hoàn toàn thành thật với người, đó là Chí thành, cái đức tốt trên tất cả đức tánh mà mọi người, dầu ngoài đời hay trong đạo, cần phải trau dồi un đúc đặng bước lần đến chỗ chí thiện.