Trong sáu pháp Ba la mật (Paramita), tức là pháp lục độ của nhà Phật, đầu hết là pháp bố thí (Dana).
Bố thí đại để có hai cách dễ làm hơn hết là: tài thí và pháp thí.
Tài thí là xuất tiền của làm việc phước thiện, như tán trợ người khốn cùng túng ngặt được no cơm ấm áo, hoặc giúp đỡ kẻ bịnh nghèo được lành mạnh bình yên, hoặc cứu người hoạn nạn, vân vân… Ấy là cứu độ về phần xác.
Pháp thí là dùng lời đạo đức giảng giải cho người, chẳng luận bực nào, nghe mà giác ngộ; khuyên lơn kẻ hung tàn bạo ngược, xảo quyệt tham lam biết hồi tâm hướng thiện cho khỏi đọa lạc luân trầm. Ấy là cứu độ về phần Hồn.
Sự bố thí là đầu mối việc của chủ nghĩa từ bi bác ái. Đức Chí Tôn lập “trường công quả” dạy chúng ta phổ độ chúng sanh, tức là dạy chúng ta phải thí tài và thí pháp đó.
Mỗi vị trong Đại Đạo “Tam Kỳ Phổ Độ” từ tín đồ đến chức sắc lưỡng phái, phải độ cho được ít nhứt là 12 người nhập môn (Thánh huấn ngày 27- 8- 26).
Tùy sức mình mà phổ độ. Dở thì nói đạo cho bực thấp nghe, hoặc lựa trong bà con thân thuộc, trong bạn yêu đương mà khuyên người mộ đạo. Giỏi thì giảng giải đạo lý cho hàng trí thức hiểu thông.
Mắc việc nhà ràng buộc, thì phổ độ trong lúc rảnh rang. Được rảnh rang, thì châu du thuyết đạo.
Chẳng nên hẹp tưởng chỉ có bực Thiên phong chức sắc mới có cái sứ mạng phổ độ chúng sanh. Thiên phong phổ độ với tư cách Thiên phong; tín đồ phổ độ với tư cách tín đồ. Ai lo công quả theo phận nấy. Lập công nhiều, đắc quả cao; lập công ít đắc quả thấp, đòn cân thăng thưởng thiêng liêng chẳng khi nào thiên lệch.
Nên biết rằng mình đi phổ độ, tức là mình tự lập quả vị cho mình, nghĩa là tự mình đoạt thủ đẳng cấp thiêng liêng của đức Chí Tôn sắp đặt nơi trường “công quả.”
Nếu rụt rè biếng nhác, chẳng chịu ra công nhọc sức, thì chẳng khác nào cử tử đến trường thi mà không làm bài nạp vở.
Đi phổ độ thường bị lắm khó khăn, trắc trở, và gặp nhiều nghịch cảnh dễ thối chí ngã lòng, cho nên cần có hai đức tánh sau nầy làm lá bùa hộ thân: nhẫn nhục và tinh tấn. ( Xem lại bài “Phương pháp tu hành” trong “Phần giáo điều.”)
Người đi phổ độ còn phải thận trọng; lời luận giải của mình sao cho chánh đại quang minh. Chẳng nên vì một ý riêng mà bịa đặt điều dị đoan mê hoặc, làm sai Thánh giáo thất chơn truyền, trái ngược tôn chỉ và lý thuyết của Thiên đạo.
Cũng chẳng nên xu phụ theo phe, theo phái mà binh vực riêng tư, làm cho chúng sanh chẳng biết đâu mà nhận thức lẽ phải, rồi đâm chán nản vì không biết tín nhiệm vào đâu.
Dùng ngụy biện để qua mặt người, bày tà thuyết để mê hoặc chúng, phao yêu ngôn cho nhơn tâm xao xuyến, đó là những điều mà người đi phổ độ phải xa lánh. Bày âm phù thần chú cho người lầm tưởng mình có huyền diệu, đó là bước đầu vào nẻo dị đoan mê tín.
Phàm muốn độ người mình phải hành động cho minh chánh. Khi thuyết đạo, lời nói phải cân phân dè dặt, không khoe khoang tự phụ, nhứt là đừng xuyên tạc đạo nào khác mà phạm quyền tự do tín ngưỡng.
Đạo Trời là đạo chung, vì Trời chẳng riêng che, Đất chẳng riêng chở. Các sắc dân trên mặt địa cầu toàn là con một Cha, đồng thọ một điểm linh quang của đấng Chí Thiêng, cho nên chẳng luận màu da sắc tóc, không phân cao hạ sang hèn, phàm gần được người nào, bổn phận mình phải lo độ người ấy, dầu được hay không cũng vậy, miễn mình làm trọn thiên chức của mình là đủ.
Chẳng nên vì kẻ giàu sang mà lân la bợ đỡ, cũng chẳng nên thấy kẻ nghèo mà ít tới lui. Người đi phổ độ phải có cái lòng bình đẳng, nhứt là đối với kẻ nghèo hèn là hạng người chịu nhiều thống khổ, mình lại càng nên chiếu cố hơn. Nghèo nàn thiếu trước hụt sau, khổ tâm làm lụng, đem bát mồ hôi đổi lấy bát cơm, hạng người xấu số ấy cần có sự an ủi của mình. Chúng ta phải lân la họ; khi đem tiền giúp đở khi đem đạo lý giải bày, đem lẽ huyền vi báo ứng mà phủ ủy, tức là chúng ta dùng linh đơn cứu chữa người trong những thống khổ về vật chất lẫn tinh thần.
Phải tùy trình độ trí thức người mà nói đạo. Với người quê dốt, nên lựa lời lẽõ giản dị và thiển cận mà giải bày; đem đạo lý cao siêu mà nói, thì không bổ ích vào đâu.
Thuở xưa, các vì giáo chủ mỗi lần thuyết pháp, đều tùy trình độ học thức của thính giả. Cũng thời một lý thuyết, song đối với hạng thấp thỏi các Ngài giải khác hơn đối với hạng thông minh, cao kiến.
Người ta đương an nhàn thỏa thích với sự giàu sang, hoặc giả đương khổ tâm cực trí với sự bần hàn túng thiếu, chúng ta cần phải chiều theo hoàn cảnh tùy phương tiện mà phổ thông Thiên đạo.
Với người sẵn có đạo tâm, thì phổ độ dễ dàng; đến như gặp kẻ cương ngạnh, không đạo tâm, không tín ngưỡng, thì rất khó khăn, chúng ta cần phải kiên tâm trì chí. Nếu may mà độ được, thì công đức rất lớn, là vì chẳng những chúng ta cứu vớt linh hồn người ấy khỏi luân trầm, đọa lạc, mà xã hội cũng bớt một phần tử xấu xa.
Tóm lại, phải tùy phương tiện, tùy hoàn cảnh, tùy tâm lý người mà nói đạo. Phải nhẫn nhục, tinh tấn và minh chánh mới mong độ được người.