Phàm muốn bảo tồn trật tự và điều hòa trong việc hành đạo, cần phải có giới luật là phép ấn định những qui tắc người tu hành phải giữ.
Tam Giáo ngày xưa có Cựu luật. Đại Đạo ngày nay có Tân luật.
Lòng từ bi của Đức Chí Tôn không nở hành phạt ai. Như Thiên Điều buổi trước, tự Thần, Thánh, Tiên, Phật, hội lập để định luật thưởng phạt cho nhau, hầu để giữ gìn lẫn nhau chớ Đức Chí Tôn chẳng dự vào. Nhưng khi lập luật rồi dâng lên, thì Đức Chí Tôn phê chuẩn chớ không sửa đổi.
Thì cũng như Tân luật buổi nọ, Lý Giáo Tông hội chư Thánh lập thành, Đức Chí Tôn vốn không dự đến. Nhưng khi dâng lên Đức Chí Tôn phê chuẩn thì nó trở thành Thiên luật.
Ấy vậy Tân luật là Thiên điều tại thế, quí báu vô cùng, người hành đạo phải tuân theo từng điều lệ mới mong đắc quả.
Buổi trước, Cựu luật buộc nhơn loại phải tự nâng cao phẩm hạnh mình cho tương đương với phẩm hạnh Thần, Thánh, Tiên, Phật mà lập vi thiêng liêng cho mình. Còn nay thì các Đấng ấy lại hạ mình đến cùng nhơn sanh đặng dìu dẫn Nhơn hồn lên phẩm vị thiêng liêng. Buổi buộc thì khó, buổi mở thì dễ là lẽ đương nhiên. ( Đây là một đặc ân lớn lao của Đức Chí Tôn ban cho chúng sanh trong buổi “Tam Kỳ Phổ Độ.”)
Phương chi, nhơn trí ngày nay đã qua khỏi Nguơn “Tấn hóa”, tức là đã tiến lên trình độ khá cao, Cựu luật không đủ kềm chế đức tin. Lại thêm Ngọc hư Cung bác luật, Lôi âm Tự phá cổ, nên tu nhiều mà thành ít. ( Xem Thánh huấn ngày 14 tháng 7 năm Bính Dần (Thánh Ngôn hiệp tuyển). ) Cựu luật và Cổ pháp ngày nay không còn ứng dụng. Những bực tu hành mà còn tưởng phải tùng Cựu luật và Cổ pháp, thì trái với điều luật của Đại Đạo “Tam Kỳ Phổ Độ” vậy.
Tân luật buộc phải phù hợp với dân trí, lẽ tất nhiên một ngày kia, nó còn phải sửa đổi cho ăn nhịp với trình độ tấn hóa chúng sanh sau nầy.
Tân luật vốn qui định phương pháp hành động và điều khoản hình phạt mà chức sắc và tín đồ phải chịu tại thế. Phàm phạm nhơn đã bị phàm trị theo Tân luật thì khỏi Thiên trị theo Thiên điều, là vì một hình phạt không thể chịu hai lần. Cho nên chư đạo hữu, chẳng luận ở hạng nào, nếu rủi ro có lầm lỗi, nên vui lòng chịu phạt theo Tân luật, thì khỏi bị hình phạt thiêng liêng về sau. Đó là một đặc ân của Đại Từ Phụ ban cho, đặng giữ gìn phẩm vị thiêng liêng cho chúng ta là con cái của Người.
Về việc chủ giới trì trai là giới luật mà người tu hành phải giữ, Đức Chí Tôn có giáng cho những bài dưới đây với một giáo lý cao siêu và mới mẻ.
“Thầy đã nói với các con rằng khi chưa có chi trong Càn Khôn, Thế Giới, thì Khí Hư Vô sanh có một mình Thầy. Rồi Thầy lập ngôi Thái Cực. Thái Cực phân Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi phân Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hóa vô cùng mới lập ra Càn Khôn, Thế Giới.
Thầy lại phân Tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là: vật chất, thảo mộc, côn trùng, thú cầm, gọi là chúng sanh.
Các con đủ hiểu rằng chi chi hữu sanh cũng do chơn linh Thầy mà ra. Hễ có sống, ắt có Thầy, Thầy là Cha của sự Sống. Vì vậy mà lòng bác ái của Thầy vốn không cùng tận.
Cái sống của chúng sanh, Thầy phân phát khắp Càn Khôn Thế Giới. Chẳng khác nào nhành hoa trong cội, nó phải đủ thì giờ Thầy nhứt định mới nở bông mà sanh trái, đặng trồng nữa, biến hóa ra thêm.
Nếu ai bẻ hoa ấy nữa chừng, là sát một kiếp sanh không cho biến hóa.
Mỗi mạng sống đều hữu căn hữu kiếp, dầu nguyên sanh hay hóa sanh cũng vậy, đến thế gian nầy lâu hay mau đều định trước. Nếu ai giết mạng là chịu quả báo không sai. Biết đâu cái kiếp ấy chẳng phải là Tiên, Phật bị đọa luân hồi mà ra đến đỗi?
Cái mạng sống là Thầy, mà giết Thầy thì không phải dễ. Các con gắng dạy nhơn sanh điều ấy.”
“Vì sao tà dâm là tội trọng?
Xác thân con người, tuy mắt phàm coi như một, kỳ trung vốn chất chứa vàn vàn muôn muôn sanh vật. Những sanh vật ấy câu kết với nhau mà thành khối (formation des cellules). Vật chất ấy có tánh linh, vì vật nuôi nấng nó như rau cỏ, cây trái, lúa gạo, mọi lương vật đều cũng có chất sanh.
Nếu nó không có chất sanh, thì thế nào tươi tắn và chứa sự sống? Như khô rũ, thì là nó chết, mà các con nào ăn vật khô héo bao giờ. Còn như dùng lửa mà nấu, thì là phương pháp tẩy trược đó thôi, chớ sanh vật chưa hề phải chết.
Các vật thực vào tỳ vị lại biến ra khí, khí mới biến ra huyết. Nó có thể hườn ra nhơn hình mới có sanh sanh, tử tử của kiếp nhơn loại.
Vì vậy, một giọt máu là một khối chơn linh, như các con dâm quá độ, thì là sát mạng chơn linh ấy. Khi các con thoát xác, nó đến tại Nghiệt đài mà kiẹân các con. Các con chẳng hề chối tội đặng.
Phải giữ gìn giới cấm ấy cho lắm.”
“Vì sao phải giới tửu?
Thầy đã dạy rằng thân thể con người là một khối chơn linh câu kết lại. Những chơn linh ấy vốn hằng sống, phải hiểu rằng ngũ tạng lục phủ cũng là khối sanh vật mà thành ra, nhưng phận sự của chúng nó làm, thảng như hiểu biết hay không hiểu biết, đều do nơi lịnh Thầy phán dạy.
Vậy, Thầy lấy hình chất xác phàm các con mà giảng dạy. Trước, Thầy nói vì cớ nào rượu làm hại cho người về phần xác. Hình chất con người vốn là thú, phải ăn uống mới nuôi sự sống. Như rượu vào tỳ vị, nó chạy vào khắp cả ngũ tạng lục phủ hết, thì tái tim con người chẳng khác như cái máy để trử sự sống, cũng phải bị nó thâm nhập vào, làm cho sự lao động quá chừng đỗi thiên nhiên đã định, thôi thúc huyết mạch vận động một cách mau lẹ, làm cho sanh khí nơi phổi chẳng đủ ngày giờ nhuận huyết cho tinh sạch.
Trược huyết ấy thối lại cùng trong thân thể, để vật ô trược vào trong sanh vật. Mỗi khối ấy ăn nhằm phải bịnh, một ngày thêm một chút, hết cường tráng, cốt tủy lần lần phải chết, thì thân thể các con phải chết theo. Nhiều kẻ chết nửa thân mình cũng vì rượu.
Bây giờ Thầy nói sự hại của rượu về phần hồn các con: Thầy nói cái Chơn thần các con là khí chất nó bao bọc thân thể các con như khuôn bao vậy. Nơi trung tim của nó là óc, nơi cửa xuất nhập của nó là mỏ ác, gọi tiếng chữ là Vi Hộ. Nơi ấy Hộ Pháp hằng đứng mà gìn giữ Chơn Linh các con khi luyện thành đạo đặng hiệp một với Khí, rồi Khí mới đưa đến Chơn Thần hiệp một mà siêu phàm nhập Thánh.
Óc là nguồn cội của Khí, mà óc cũng bị huyết mạch vâïn động vô chừng, đến nỗi tán loạn đi thì Chơn Thần thế nào an tịnh đặng mà điều khiển? Thân thể phải ra ngây dại, trở lại chất thú hình. Mất phẩm nhơn loại rồi, còn mong chi đặng phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật?
Lại nữa, buổi loạn Thần ấy để cửa trống cho tà mị xung đột vào, giục các con làm việc tội tình mà phải chịu luân hồi muôn kiếp.
Vậy Thầy cấm các con uống rượu, nghe à!”
“Ôi! Thầy sanh các con, thì vẫn thương yêu các con chẳng cùng. Thầy lại cho các con đến thế giới nầy với một Thánh thể thiêng liêng, y như hình ảnh của Thầy, không ăn mà sống, không mặc mà lành. Các con không chịu, lại nghe lời cám dỗ mê luyến hồng trần, ăn cho phải bị đàyï, dâm đến phải bị đọa, nên chịu nạn áo cơm, dục quyền cầu lợi.
Lợi! Thầy đã dành để các con chung hưởng cùng nhau mà cũng vì tham, đứa chứa nhiều, đứa chịu đói.
Quyền! Thầy cũng ban cho các con in như Thầy đã ban cho chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, hầu cho đủ thế kềm thúc lấy nhau, đặng giữ vẹn Thánh chất yêu sanh của Thầy. Mà quyền ấy lại trở nên một lợi khí buộc trói nhơn sanh trong vòng tôi mọi. Ôi thảm thay! Cái thất vọng của Thầy rất nên ghê gớm.
Các con có hiểu vì sao cả nhơn sanh đều gian tham chăng?
Thì cũng vì muốn cho nhiều sanh mạng chịu phục dưới quyền thế lợi lộc của nó.
Sự yếu trọng của con người là nạn cơm áo, mà nắm chặt quyền phân phát cơm áo, thì chưa ai đã thọ sanh nơi thế gian nầy tránh khỏi gian tham.
Muốn đặng quyền hành ấy, phải làm thế nào? Dùng hết mưu chước quỉ quyệt, thâu đoạt lợi lộc quyền thế cho nhiều, vì vậy mà đời trở nên trường tranh đấu, giựt giựt, giành giành gây nên mối loạn. Nhơn loại nghịch lẫn nhau, giúp cho phép tà quyền mạnh hơn, yếu thiệt, mất phép công bình thiêng liêng tạo hóa.
Vậy tham gian đã nhâïp lòng người, thì lòng hết đạo đức. Tham gian đã nhập vào nước, nước hết chơn trị. Tham gian đã lộng lên toàn thế giới, thế giới hết Thánh Thần.
Thầy chẳng cần nói, sự gian tham có thể giục các con thất Đạo cùng Thầy mà bị lắm điều tội lỗi.
Ấy vậy, gian tham là tội trọng.”
“Thầy đã nói nơi thân phàm các con, mỗi đứa Thầy đều cho một Chơn linh gìn giữ cái chơn mạng sanh tồn. Thầy tưởng chẳng cần nói, các con cũng hiểu rõ rằng Chơn linh ấy vốn vô tư, mà lại đặng giao thông cùng cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, và các đấng Trọn lành nơi Ngọc Hư Cung, nhứt nhứt điều lành và việc dữ đều ghi chép không sai, đặng dâng vào Tòa Phán xét. Bởi vậy nên một mảy không qua, dữ lành đều có trả.
Lại nữa, các chơn linh ấy có tánh Thánh nơi mình đã chẳng phải gìn giữ các con mà thôi, lại còn dạy dỗ các con, thường nghe đời gọi lộn Lương tâm là đó.
Bởi vậy, chư Hiền, chư Thánh Nho nói Đạo rằng: “Khi nhơn tức khi tâm, khi tâm tức khi Thiên. Khi Thiên đắc tội, hoạch tội ư Thiên, vô sở đảo dã”.
Như các con nói dối, trước chưa dối với người, các con đã dối với Lương tâm, tức là Chơn linh. Thầy đã nói Chơn linh ấy đem nạp vào Tòa Phán xét từ lời nói của các con, dầu những lời nói ấy không thiệt hành, chớ tội tình cũng đồng một thể.
Nơi Tòa Phán xét, chẳng một lời nói vô ích nào mà bỏ qua, nên Thầy dặn các con phải cẩn ngôn cẩn hạnh.
Thà các con làm tội đặng chịu tội cho đành, chẳng hơn các con nói tội mà phải mang trọng hình đồng thể.
Các con khá nhớ.”
“Chư môn đệ phải giữ trai giới. Vì tại sao?
Chẳng phải Thầy còn buộc theo Cựu luật, song luật trai giới rất nên quí báu, nếu không giữ chẳng hề thành Tiên, Phật đặng. Thầy cắt nghĩa:
Mỗi người dưới thế nầy vốn có hai xác thân: một xác phàm, một xác thiêng liêng. Mà cái thiêng liêng do nơi xác phàm mà ra, gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng. Cái xác huyền diệu thiêng liêng ấy do Tinh, Khí, Thần mà luyện thành. Khi nơi xác phàm xuất ra, thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập. Còn như đắc đạo mà có Tinh Khí không có Thần, thì không thể nhập mà hằng sống. Còn như có Thần mà không có Tinh, Khí thì khó hườn Nhị xác thân.1 Vậy ba món báu ấy phải hiệp lại mới đặng.
Nó vẫn là chất, tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà không khí Tiên Thiên thì có điễn quang. Cái chơn thần buộc phải tinh tấn, trong sạch nhẹï nhàng hơn không khí mới ra khỏi Càn Khôn, Thế Giới đặng. Nó phải có bỗn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng. Phải có xác phàm tinh khiết mới xuất Chơn thần tinh khiết.
Nếu các con ăn mặn luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng?
Như rủi hườn Nhị xác thân, cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí lại là vật chất tiếp điễn (bon conducteur d’électricité) Cái nhị xác phàm ấy chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt. Còn như biết khôn ẩn núp tại thế mà làm một bực Nhơn Tiên, thì kiếp đọa trần cũng còn chưa mãn.
Vậy Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo.”