Đạo có Thiên đạo và Nhơn đạo.
Nhơn đạo thì dễ thông dễ hiểu.
Thiên đạo lại thâm diệu ẩn vi, khó đem lý trí mà thấu đáo.
Cần phải sống trong đời tu niệm thanh cao; cần phải tham khảo nhiều kinh điển, rồi đem học lực và kinh nghiệm mà suy cầu, từ cái đã biết tìm ra cái chưa biết.
Tuy nhiên, sở đắc của mình vốn chưa đủ; cần phải có đạo căn và nhờ các đấng Thiêng liêng chỉ giáo thêm mới được.
Gia công sưu tầm học hỏi là để mở mang trí thức, tức là thế trí mà Đại Đạo “Tam Kỳ Phổ Độ” gọi Nhơn hồn. Song trí huệ tức là xuất thế trí hay bát nhã, Đại Đạo gọi Anh hồn, chưa vì đó mà phát triển.
Nói một cách giản dị hơn: nhờ học hỏi sưu tầm chúng ta được mở mang trí thức mà làu thông đạo lý, biết biệt phân phán đoán, biết nói đạo lưu loát rạch ròi. Nhưng chỗ cao thâm vi diệu của Thiên đạo mà trí thức không thể tìm hiểu, nó vẫn mù mờ trong sở thức chúng ta. Là vì chúng ta không có sức thiêng liêng trợ giúp đặng mở mang trí huệ là cái đặc khiếu nhờ đó mà rõ thông Thiên đạo.
Vậy là chưa “nhập diệu”.
Chưa “nhập diệu” chúng ta còn nhiều chỗ sai lầm.
Nhiều khi chúng ta dùng trí thức để khám phá lẽ mầu nhiệm của Tạo Hóa; chúng ta phân tách mỗi vấn đề ra từng chi tiết mà quan sát, rồi tổng hợp lại mà suy cầu theo phương pháp khách quan. Kết luật, chúng ta tự cho rằng đã tìm ra chơn lý, nhưng than ôi! chỉ là hình bóng của chơn lý đó thôi.
Kinh điển là sáng tác của các đấng tiền giác vốn chỉ giải đạo lý cao siêu, nhưng vốn có giới hạn, lại là vật không linh động, không linh hồn. Một vật không linh hồn chẳng thế nào cảm thông với một linh hồn mà khai huệ cho. Phải một linh hồn cảm thông với một linh hồn mới làm việc ấy được.
Vậy, chúng ta cần phải có sự trợ giúp của một đấng Thiêng liêng. Đấng Thiêng Liêng ấy tức là Chơn sư của chúng ta vậy.
Chơn sư ấy là ai?
Khi mặt Trời lố mọc, phương Đông rọi ánh bình minh. Người ta không cần đèn đuốc cũng nhận thấy Thái dương.
Lần lần ánh dương quang rọi sáng từ thành thị đến thôn quê đến hang cùng nẻo tận.
Khi một Giáo chủ lâm phàm, ánh sáng của Ngài soi khắp thế gian. Đầu tiên những bực đạo căn nhận biết, rồi đến hàng trí thức, đến hạng thường nhơn.
Không một ai không trông thấy ánh mặt Trời, cũng không một ai không khuất phục trước ánh sáng của Chơn lý, của đấng Giáo chủ là đấng lâm phàm cứu thế trong hạ ngươn mạt kiếp nầy.
Đấng Giáo chủ ấy là Thần Chơn Lý (Esprit de Vérité) theo lời tiên tri của đấng Christ, là một đại Bồ Tát (Di Lạc Vương Bồ tát (Maitreya) theo lời tiên tri của phật Thích Ca, là Thần Bảo tồn (Vishnou) của đạo Bà la môn Brahmanisme)
Danh từ xưng tụng vì khác tôn giáo mà khác nhau nhưng tựu trung vẫn ám chỉ Chơn linh của Thượng Đế lâm phàm giáo đạo. (1)
Ngài đến trong buổi “Tam Kỳ Phổ Độ” nầy với Thánh danh Cao Đài.
Ngài tự xưng là Thầy và gọi chúng ta các con.
Chơn sư chúng ta là đức Cao Đài đó vậy.
***
Soạn quyển “Thiên Đạo” chúng tôi nhờ học hỏi ở Chơn sư cùng các đấng Thiêng Liêng khác, một phần cũng nhờ tham khảo những kinh điển xưa mà được các đấng lựa cho.
Quyển “Thiên Đạo” chia làm hai phần: phần giáo điều và phần giáo lý.
Trong phần nhứt, Thiên Đạo được thuyết minh một cách giản dị, có hệ thống, có mạch lạc, đọc qua là hiểu rạch ròi.
Văn từ dùng ròng những tiếng đã thông dụng của các tôn giáo, không tạo ra tiếng mới cho khó nhớ. Nhiều khi lại có chua tiếng Phạn và tiếng Pháp, cốt để cho anh em có Tây học hiểu mau.
Có biết giáo điều phổ thông rồi mới dễ lãnh hội những giáo lý giải trong phần nhì.
Quyển “Thiên Đạo” không những cần yếu cho chư đạo hữu, lại còn giúp ích cho người ngoài đạo mà muốn sưu tầm đạo lý.
Nguyễn Trung Hậu
Phan Trường Mạnh
(1) Theo đạo Bà la Môn (Brahmanisme), ngôi Ba (Vishnou) đã hóa thân 9 kiếp rồi (9 avatars), đến kiếp thứ 10 và là kiếp chót (Kalki avatar), Ngài lại hóa thân trong thời kỳ mạt pháp nầy (Kaliyuga), mình cỡi bạch mã để khởi nguyên một thời đại hòa bình, hạnh phúc.