ÐIẾU VĂN
của Hội Thánh Ngoại Giáo.
Kính Chư Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài,
Kính Chư Chức Sắc Cửu Trùng Ðài Lưỡng Phái,
Kính Chư Ðạo Hữu Nam Nữ,
Nơi đây, là đối với cơ hữu hình chúng ta đành vĩnh biệt một Ðấng đáng yêu đáng kính ngàn thu. Ðức Quyền Giáo Tông thoát xác, tin buồn nầy làm cho trong Ðạo lớn nhỏ gần xa đều đáng thương tiếc. Than ôi! Cơ đời vẫn thế đã chịu luật sanh hóa trên cõi trần hoàn cả vạn linh dầu thú cầm thảo mộc cũng không tránh khỏi vòng sống thác. Có sanh ắt có diệt, có, không, còn, mất, thấy có rồi không, thấy còn bổng mất, cho hay, khách trần sống ở thác về, câu “vạn sự viết vô” đã chỉ rõ.
Chúng ta đưa Ðức Quyền Giáo Tông đến đây chẳng phải để lòng thương mến Ngài mà thôi, mà cũng là dịp cuối cùng để nhắc nhở công đức Ngài trong chín năm lao nhọc vì chủ nghĩa thương đời. Ðức Hộ Pháp, bà Nữ Chánh Phối Sư và ông Ngọc Chánh Phối Sư mới đây, đã nhân danh Hiệp Thiên Ðài và Cửu Trùng Ðài mà trạng tỏ lịch sử công nghiệp hạnh đức của Ngài và tôn chỉ Ðạo. Giờ chót này tôi xin nhân danh Hội Thánh Ngoại Giáo mà nhắc nhở chút đỉnh công nghiệp của Ngài đối với Cơ Truyền Ðạo tha phương hầu tỏ chút lòng cảm mến trong buổi chung qui.
Hội Thánh Ngoại Giáo:
Ðức Chí Tôn có dạy rằng: “Nền Ðạo chẳng phải riêng gì cho nước Nam, mà chung cho cả nhơn loại trên mặt địa cầu nầy“. Người lại dạy: “Ðời là cõi khổ đã loạn, muốn giải khổ cho đời, đổi loạn ra trị mà cứu vớt lấy con cái của Người, bất câu là dân tộc nào, thì chỉ có Ðại Ðạo là nguồn cội của sự thương yêu. Nếu sự thương yêu đã nhiễm vào lòng thì không tranh đấu, không thù hiềm, nhơn loại sẽ tự đổi họa thành phước mà lập thành cơ tương thân thế giái đại đồng“.
Song đó là về tương lai, sự kết quả thế nào thời gian sẽ trả lời cho chúng ta biết. Nhưng kẻ dìu đường của Ðại Ðạo chỉ lo phận sự. Bởi thế mà Ðức Quyền Giáo Tông là một Ðại Thiên Phong có trách nhiệm lớn lao, một mặt thì lo phổ độ đồng chủng, một mặt thì lo truyền Ðạo tha phương. Hội Thánh Ngoại Giáo lập thành là do đó.
Than ôi! Công trình cực nhọc của Ngài đối với Ðạo từ buổi sơ khai đến nay, ai là người nhiệt thành với Ðạo đều thấy rõ.
Chúng tôi thương Ngài tấm thân vất vả, chịu tiếng thị phi, song bao giờ cũng vẫn quả quyết ung dung hòa hưỡn, phấn đấu mà làm phận sự cho đến cùng.
Riêng về phần Hội Thánh Ngoại Giáo thì chúng tôi có cảm tình với Ngài rất đặc biệt.
Trong 7 năm trường kể từ xứ Cao Man có Ðạo Cao Ðài, Ngài là một người chung chịu cùng với chúng tôi, các điều khổ sở áp bức, chẳng có cái nguy nào mà Ngài lánh, cái nạn nào mà Ngài từ. Còn nhớ khi Ngài đến Kim Biên lần chót cùng chúng tôi đem mình ra trước cửa công, Ngài than rằng: “Em ôi! Thân của Qua mất còn bao quản, luật Ðời chỉ cản ngăn xác thịt, chớ không buộc trói được tinh thần. Qua lo là lo gánh nặng đường xa, không người đồng chí, Qua còn đây thì chẳng nói gì, chớ mai kia mốt nọ Qua mất rồi thì thương cho con cái của Thầy phải chịu liu chiu lít chít“.
Ngậm ngùi thay! Giọt nước mái nhà lắm khi xoi mòn tảng đá, cái chí quả quyết của Ngài vì Ðạo với bao nhiêu sự khó khăn của cơ đời chẳng phút nào lay, tấm thân dầu nát, trái tim dầu ngưng, cái lòng hăng hái của Ngài về cột tình thân ái của dân Nam, do đường đạo đức không mòn không rúng. Câu than ấy cũng tưởng buồn mà than, Ngài có giã từ trần thế nào cũng trong một vài năm nữa, nào dè bóng cờ Ðạo vừa phất phơ thì Ngài đã xủ xong áo tục!
Thương ôi!
U hiển dầu phân hai ngã, nhiệt tâm dẫn khách đồng thuyền, muốn gặp nhau chăng xin chờ giấc mộng! Thương nghiệp quốc đầy giọng thảm, luộc mình tầm nặng lòng tơ. Nhớ nhau chăng hồn linh ta biết. Thưa Ðức Quyền Giáo Tông, hiền xưa có nói: “Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử, lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh“.
Ðạo hôm nay đã lần sang ngoại quốc, cái thác của Ngài còn lưu lại một tấm lòng son, chẳng những đối với quê hương của chúng tôi, mà đối với bất kỳ dân tộc nào, mến chủ nghĩa bác ái hòa bình, sẽ rạng nêu nơi cửa Ðạo muôn năm về sau. Về phần đời với non sông đất Việt trong buổi hiện thời Ngài đã làm tròn phận sự, về phần Ðạo đối với cơ Thiêng liêng Ngài đã tuân y Thánh Giáo, gắng khổ chìu tâm, nâng cao hạnh đức mà gìn trọn thái độ kẻ tu hành. Em xin cùng chư Thiên Phong Hội Thánh Ngoại Giáo nghiêng mình trước Liên Ðài của Ngài lần cuối cùng mà tỏ lòng thương vô hạn và cầu chúc cho linh hồn Ngài sớm hưởng phước thanh nhàn tiêu diêu nơi cõi thọ.
Hỡi ôi! Thương thay!
Hỡi ôi! Tiếc thay!
Tòa Thánh, le 2 Décembre 1934,
(ngày 26 tháng 10 năm Giáp Tuất).
Tiếp Ðạo
CAO ÐỨC TRỌNG
Phụ ghi: Nguyên bản chánh in là: Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử, lưu thủ đoan tâm chiếu hãng thanh. Chúng tôi nghĩ là: Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử, lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
Ðan tâm: Lòng son, lòng trung thực, bụng tốt.
Hãn: Hãn có nghĩa là hiếm, ít có như chữ thế gian hãn hữu.