THƠ CỦA ÐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG
Gởi cho Giám Quốc Pháp
Bản phiên dịch Việt văn.
Thưa Ông,
Tôi xin hoàn lại nơi tay ông cái Médaille điều của Chánh phủ Pháp ban thưởng cho tôi hồi năm 1912.
Ra làm việc quan trong 12 năm, ai ai cũng đều mến yêu và khen ngợi, làm Hội đồng Quản Hạt trong 8 năm, lại có chưn trong ban Hội đồng Thượng Thơ Ðông Dương được 12 năm cả thảy là 32 năm trời. Tôi lấy lòng trung thành lo việc cho Quốc Pháp nên mới có một cái vinh diệu xứng đáng như thế.
Nhiệm vụ của tôi đối với đời đã mãn hạn, tôi sắp sửa về nghỉ an dưỡng lão. Bổng chốc Ðức Chí Tôn gọi tôi ra gánh vác nền Ðạo đức để dung hợp cái Giáo lý với thế gian, hầu gieo khắp trên võ trụ, sự ham muốn điều qui thiện và lòng yêu thương đồng loại, sự nhiệt thành đạo đức đặng cho loài người biết công lý và quả báo tương lai. Trót 8 năm nay, tôi nhiệt tâm mưu kết sự thương yêu tình nhân loại trong các chủng tộc, vì tôi đây nhận chắc Giáo lý tân khai nầy để làm tài liệu cho chúng sanh bước lên hòa bình thế giới. Ðạo Cao Ðài ngày nay tính ra trên một triệu Tín đồ, phần nhiều là người Việt Nam, còn bao nhiêu người Langsa, người Cao Miên, người Lào, người Sơn Cước và người Tàu; có lẽ Chánh phủ thuộc địa chưa có hiểu tâm lý của chúng tôi, cho nên Tín đồ của Ðức Chí Tôn thường thường bị người bạc đãi áp chế một cách vô lý, mỗi lần chúng tôi yêu cầu xin xỏ điều chi, thì mỗi lần Chánh phủ lấy võ lực can thiệp khuấy rối người hành đạo.
Trong thời buổi nầy Chánh phủ lại dùng đủ phương sách để đánh đổ người đứng ra sáng lập nền Giáo lý của Ðức Chí Tôn. Tôi xin trích lục nhiều đoạn tôi đã viết một cái thơ gởi cho Tham Biện Vilmont ở Tây Ninh: “Ông đã làm ăng kết (enquête) rồi, vậy xin ông cho chúng tôi biết chừng nào mãn cái qui định cúng tế đã tổ chức ra đây. Còn những chuyện lôi thôi mà ông đã lược thuật cho tôi biết trong thơ của ông, tôi xin lỗi, chớ phải chi ông cố cập đến tôi một chút ít, nghĩa là: Nếu ông không nhìn nhận tôi là Giáo Tông, thì ít nữa cũng nhìn nhận tôi là chủ Thánh Thất Long Thành, thì đâu có xảy ra mấy vụ lôi thôi như thế.
Vả lại chúng tôi đây, không phải là người tổ chức các vụ ấy, cuộc hội nghị tại Thánh Thất, rồi ông có lòng khinh khi miệt thị một người tôi tớ trung thành lão nhược của Chánh phủ Pháp, người tớ ấy tức là tôi đây, mà ngặt nỗi tôi đây có cái hân hạnh được Chánh phủ Pháp ban thưởng Médaille điều, tôi vì mạng lịnh của Ðức Chí Tôn mà tận tâm mưu công ích cho hai nước Pháp Việt cho dân tộc được đề huề một cách chơn thật, cùng sống mà hưởng lợi quyền như nhau, mà ngày nay lại thấy thân giam hãm vào trong nghịch cảnh nầy, thì thật là khổ tâm cho tôi là dường nào?” Tôi viết thơ phân trần mọi lẽ mà Chánh phủ đáp lại bằng cách bạo ngược. Mới rồi đây, hôm ngày 22 tháng 2, có 34 người Ðạo của tôi thiếu thuế mà Chánh phủ lại bắt bỏ tù tôi, một ông già 60 tuổi có mày đai điều, vô cớ ngồi tù hai ngày giữa mặt Chánh phủ thuộc địa.
Vậy cái Médaille quí báu kia có giá trị gì? Vậy lỗi ấy do bởi Chánh phủ Pháp Quốc không biết chọn người cho xứng đáng. Kể từ đây tôi không muốn theo cái danh vị gì nữa, danh vị dầu cao trọng thế mấy, Chánh phủ thuộc địa coi cũng không ra gì, mà lại không thể chứng cái lòng trìu mến của tôi đối với nước Pháp.
Tuy nhiên, tôi cũng vẫn còn hy vọng đến ông thần công lý của Pháp Quốc mà bấy lâu thiên chức của tôi, hầu có ngày tự biết điều quấy của mình và rõ thấy Ðạo Cao Ðài không ngoài cái mục đích đem thế giới lên con đường hòa bình và thân ái.
Kính chào ông.
LÊ VĂN TRUNG
Bản chánh Pháp văn.
Tây Ninh, le 4 Mars 1934.
A Monsieur le Président de la République Francaise
PARISMonsieur le Président de la République,
J’ai l’honneur de venir très respectueusement remettre entre vos mains la Décoration de Chevalier de l’Ordre National de Légion d’honneur que ma conférée la République Francaise par Décret du 18 Mai 1912.
Fonctionnaire apprécié et estimé pendant douze ans, Conseiller Colonial ensuite pendant huit ans, enfin Membre du Conseil du Gouverment de l’Indochine pendant douze ans, telles sont les trente-deux années de vie mises loyalement au service de la France, qui m’ont valu cette haute récompense de la République.
Après ma vie publique, je m’apprêtais à finir mes vieux jours dans un coin oublié de terre en Cochinchine, quand soudain (1926) je fus appelé par l’invisible à reprendre ma tâche pour l’unification de toutes les religions existantes, pour “semer parmi les peuples l’amour du bien et des créatures de Dieu, la pratique de la vertu, apprendre à aimer la justice et la résignation: révéler aux humains les conséquences posthumes de leurs actes, tout en assainissant leur âme”.
Depuis huit ans je me consacre entièrement à cette oeuvre de fraternisation des races, convaincu que la nouvelle religion constitue un des puissants facteurs indispensables à la réalisation d’une collaboration loyale et sincère de tous les peuples, d’une paix mondiale durable.
Le Caodaisme comprend aujourd’hui plus d’un million de fidèles composé d’Annamites en très grande partie et de Francais, Combodgiens, Laotiens, Mois et Chinois.
Nous ne sommes pas compris peut-être par le gouvernement Colonial?
Toujours est-il que le Caodaisme est sans cesse injustement frappé.
À nos doléances et à nos réclamations, on répond par des actes arbitraires et des persécutions religieuses.
À l’heure qu’il est en fait tout pour atteindre le promoteur de cette nouvelle église dans son honneur.
Dans de nombreux documents, je me permets d’extraire les passages édifiants ci-après d’une lettre que j’ai écrite récemment à Monsieur l’Administrateur Vilmont, chef de la Province de Tây Ninh Cochinchine.
“En ce qui concerne vos récentes instructions, je vous serais très obligé de bien vouloir me faire connaitre jusqu’à quand est applicable cette nouvelle règlementation des cultes.
Quant aux évènements dont vous avez fait allusion dans votre lettre, je me permets de vous faire remarquer que si vous aviez bien voulu tenir compte de mes requêtes et de mes droits sinon de chef du Sacerdoce Caodaisme, du moins de chef du Temple de Long Thanh (Tây Ninh) ces “désordres” n’auraient jamais au lieu. Mieux que tout autre vous saviez que les désordres que vous signalez aujourd’hui ne venaient pas de nous.
Le réunion du 24 Novembre dernier, autorisée par vous à se tenir dans mon Temple, à des personnes tout à fait étrangères à la religion et malgré ma lettre No 394 du 22 Novembre 1933, est un véritable défi, sinon une insulte, jeté sans motif à la face qu’un vieux et loyal serviteur de la France doublé d’un décoré de la Légion d’honneur.
Il m’est vraiment pénible de constater ces choses à l’heure où tous mes efforts et tout mon dévouement sont mis sincèrement au service de la cause commune des deux peuples, c’est-à-dire à l’entente cordiale et sincère les deux races applelées par la volonté du tout puissant à vivre en communauté de vie et l’interêts.”
Naturellement ces doléances sont restées sans réponse, par contre les persécutions se sont de plus belle.
La dernière en date fut mon emprisonnement, le 22 Février dernier, pour dette due au fisc par trente-quatre de mes coreligionnaires, prétexte tout à fait falicieux.
Le Chevalier de Légion d’Honneur, à l’aurore de sa soixantième d’année, fut jeté en prison sans qu’aucune formalité prescrite par la loi ne fut observée.
J’ai séjourné deux jours et demi dans une cellule de la prison de Tây Ninh avec mon ruban arboré et la carte de Chevalier sur moi.
Ainsi aux yeux du Gouvernement Colonial, la Légion d’honneur ne signifie rien, l’infâmie peut atteindre.
Tout le tort revient-il à la République qui ne devait pas conférer cet insigne honneur à un pauvre indigène?
J’accomplis mon geste avec d’amers regrets, mais je préfère ne plus porter une très haute distinction à laquelle le Gouvernement Colonial n’a aucun égard et qui ne peut même plus devenir un éclatant témoignage de mon attachement à la France.
Cependant, confiant en la justice de cette France douce et généreuse que j’ai toujours aimée, je poursuivrai jusqu’au bout ma tâche sans passion et sans haine, espérant qu’on voudra bien un jour se rendre compte des erreurs commises et rendre justice à une religion qui n’a d’autre prétention que celle d’apporter au monde la paix et la concorde.
Veuillez agréer, Monsieur le Président de la République, l’expression de mon plus profond respect.
LÊ VĂN TRUNG
LÊ VĂN TRUNG Pâpe Intérimaire
du Bouddhisme rénové ou Caodaisme,
Ancien Conseiller Colonial,
Ancien Membre du Conseil de Gouvernement de l’Indochine.
Long Thành Tây Ninh (Cochinchine).Pièce jointe: Un certificat de Monsieur le Grand Chancelier de l’Ordre National de la Légion d’Honneur.