Tiểu Sử ÐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT

Bài Giảng Ðạo ngày 24-8 Mậu Thìn (dl. 07-10-1928).


BÀI GIẢNG ÐẠO

Tại nhà ông Cả Hồ Văn Nhơn Bến Tre
Ngày 24-8 Mậu Thìn (7 Octobre 1928).

Chư Quí Ðạo Hữu, Ðạo Muội, chư Thiện Nam, Tín Nữ,

Ðường xa viễn vọng, cách trở ngàn trùng, anh em chúng tôi chẳng ngại ngùng đi đến đây, trước khai đàn cho ông Cả Hồ Văn Nhơn và vợ là Lê Thị Liêng, sau chỉ rõ anh em được biết mục đích tôn chỉ Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Vả chăng hạt Bến Tre đây là chỗ địa linh nhơn kiệt, xuất hiện nhiều nhà thi văn đặc biệt, tôi đâu dám tự phụ tài hay học giỏi mà múa búa trước cửa Lỗ Ban, diễn văn nơi làng Khổng Thánh, nhưng sở dĩ có mấy lời hèn mọn tỏ ra đây mong cho anh em chị em hiểu rõ nguồn cội Ðại Ðạo Tam Kỳ.

Ðạo vẫn rất cao sâu mầu nhiệm, nếu dẫn từ khí Hư vô sanh ra Thái cực, Lưỡng nghi, Tứ tượng vân vân … thì dong dài và rất khó hiểu cho phần nhiều trong em út chưa rõ Ðạo. Vậy tôi xin cắt nghĩa cuộc tuần hoàn giác thế, nền Ðạo khai và khai tại nước Nam Việt ta cho chư Ðạo Hữu, chư Ðạo Muội hiểu rõ đặng có đủ đức tin, ngõ hầu sốt sắng lo hành đạo theo thời kỳ nầy.

Từng nghe: “Thiên Ðịa tuần hoàn, châu nhi phục thỉ“.

Từ tạo Thiên lập Ðịa, càn khôn phát khởi tới ngày nay biết mấy muôn mấy vạn lần xuân qua hè lại, thu mãn, đông tàn, nay tới đời Hạ ngươn mạt kiếp cũng gọi là cuối cùng.

Phàm muôn việc đều có thỉ có chung, có khởi có cùng như một ngày một đêm 12 giờ, khởi ư Tý Sửu Dần Mẹo Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi.

Tới Hợi rồi thì phải khởi lại Tý. Mỗi tháng khởi mồng một tới ba mươi cuối tháng rồi khởi lại mồng một nữa. Năm thì khởi tháng giêng đầu năm, rồi lại tới tháng chạp là cuối năm thì phải khởi lại tháng giêng. Mỗi tháng chia ba tuần, mỗi tuần 10 ngày; mỗi năm chia ra tam ngươn: Thượng ngươn, Trung ngươn, Hạ ngươn. Ấy là luật tuần hườn của Trời phân định, việc thế thì cũng phải có tuần hườn vậy. Hồi tạo Thiên lập Ðịa, càn khôn phát khởi rồi cũng phải tới cuộc cuối cùng, như cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, cùng đêm, cùng giờ, cùng khắc v.v… Nên cũng chia ra tam ngươn: Thượng ngươn, Trung ngươn, Hạ ngươn. Mỗi năm trời đất đều lớn hơn ngươn năm trước. Nay tới đời Hạ ngươn hầu bước qua Thượng ngươn khởi lại nên nhân vật đổi dời. Ðạo là tối trọng tối quí trong đời, Ðạo vẫn có trước rồi mới có đời. Ðạo đời đi cặp nhau. Ðạo như cái lưới bao trùm Càn khôn Thế giới, không có việc chi từ lớn chí nhỏ mà ra khỏi Ðạo. Nay vì cuộc tuần hoàn và vì căn bổn háo sanh nên Ðấng Chí Tôn chuyển Ðạo lại.

Dẫn hồi tạo Thiên lập Ðịa thì nội vùng Á Ðông đây văn minh trước, nên từ Bàn Cổ sơ khai, Ðạo cũng khai bên vùng Á Ðông trước, như: Ðạo Phật thì mở khai tại Thiên Trước là Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật, Thích Ca khai Ðạo Phật. Ðại Ðạo là Ðạo Tiên thì Lão Tử khai tại Trung Huê, sau nữa Khổng Phu Tử khai Ðạo Thánh cũng ở Trung Huê là ở miền Á Ðông. Sau lần lần Ðạo trải khắp qua hướng Tây nên Ðức Chúa Giê Su truyền Ðạo Thánh bên hướng Tây. Kế đó Ðạo mới rọi truyền ra khắp năm châu.

Ngày nay là châu nhi phục thỉ, nên Ðại Ðạo phát ra tại Á Ðông nầy. Bởi cớ ấy nên trong bài Khai Kinh của Ðức Lữ Tổ cho hai câu đầu như vầy:

“Biển trần khổ vơi vơi trời nước,
Ánh thái dương rọi trước phương đông… “

Mặt trời mọc hướng Ðông rồi lần lần lặn thì qua hướng Tây Ðạo truyền ra cũng như thế.

Người nước Nam từ cổ chí kim thiệt không có Ðạo, trong nước nhà mà người Nam ta có tâm đạo; người Nam trổi danh khắp địa cầu về bề tín ngưỡng, Ðạo Phật, Ðạo Tiên, Ðạo Nho tuy khai bên Ấn Ðộ và bên Trung Huê, sau người Nam biết đặng cũng hết lòng sùng bái. Ðạo Gia Tô của mấy Linh Mục bên Thái Tây đem gieo truyền bên nước ta thì người Nam cũng kính trọng. Phần nhiều trong người Nam thì hay đi chùa, đi miểu, đi nhà thờ cầu khẩn, vọng tưởng hết lòng, ngưỡng mộ Trời Phật. Người không đi chùa, đi miểu, không đi nhà thờ, thì trong nhà cũng thờ ông bà cha mẹ quá vãng ấy là Ðạo Nho. Mấy bằng cớ trên đây chỉ rõ rằng người Nam Việt tin tưởng Trời Phật, Thánh Thần, tin tưởng chắc rằng chết thì cái xác phàm nầy chết tiêu diệt, chớ linh hồn bất tiêu bất diệt, vì đạo tâm ấy mà trong thời kỳ chuyển đạo nầy Ðấng Chí Tôn thương lòng thành thật của nhơn sanh nơi đây mà khai Tam Kỳ Phổ Ðộ (ân xá lần thứ ba).

Tuy khai Ðạo tại nước Nam mà cũng khởi ư Ðông. Bàn Cổ sơ khai Thiên khai ư Tý, Ðịa tịch ư Sửu, Nhơn sanh ư Dần. Từ năm Bính Dần, Ðạo phát khai tại Tây Ninh lần lần truyền ra Gia Ðịnh, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Chợ Lớn là mấy hạt ở về hướng Ðông. Qua năm thứ nhì thứ ba, Ðạo mới truyền ra mấy hạt hướng Tây.

Trong thời đại Hạ ngươn đây, nhân loại ở thế gian phần đông vì ham cái văn minh vật chất, ham ăn mặc sung sướng, giành giựt cấu xé mồi phú quí, bả vinh hoa, vẻ cân đai, mùi chung đỉnh, mạnh còn, yếu mất đua chen lẫn lộn.

Than ôi! Nhân loại như thế sao khỏi động lòng Trời!

Ðấng Chí Tôn vì háo sanh, đại từ đại bi, thấy nhân loại đang mờ mịt trong vòng hắc ám, lầm đường lạc nẻo, mới khai Ðại Ðạo để độ dẫn chúng sanh thoát khỏi bến trầm luân khổ hải nầy.

Tôi chỉ rõ cho Thiện Nam Tín Nữ biết rằng: Người Nam không Ðạo nhà, mà nay Ðấng Chí Tôn thương tâm đạo chúng ta nên khai Ðạo tại đây. Hồi năm đầu khai Ðạo, Ðấng Chí Tôn có cho ông Nguyễn Thế Vinh cũng là người đạo đức và con nhà nho phong ở tại Chợ lớn một bài Tứ tuyệt như vầy:

“Từ thử nước Nam chẳng Ðạo nhà,
Nay Ta gầy dựng lập nên ra.
Ví bằng ai hỏi sao bao nả,
Rằng trẻ noi sau biến hóa già.”

Bài Tứ tuyệt nầy chứng tỏ rằng từ cổ chí kim nước ta không Ðạo nhà. Nước mà không Ðạo cũng ví như người ta không hồn, nhà không đạo đức tự nhiên cang thường luân lý phải suy bại.

Ðạo là gì? Ðạo rất cao sâu mầu nhiệm, Ðạo bao trùm Càn khôn Thế giới, không có vật chi, không có việc chi ra khỏi Ðạo, tôi xin diễn tắt rằng hễ có Ðời tức nhiên có Ðạo.

Trong thế sự chia ra hai bên, một bên hữu hình, một bên vô hình. Hữu hình hữu hoại, vô hình bất tiêu bất diệt.

Hữu hình là những vật chi mình rờ nắm được như cái bàn cái ghế, cái xác phàm ta đây là hữu hình, vì ta rờ nắm được, ấy vậy xác phàm ta phải tiêu phải diệt. Còn vô hình như gió như mây, muôn năm ngàn kiếp, gió mây có tận diệt bao giờ, mà có ai bắt gió đón mây cho được. Linh hồn ta cũng như gió như mây vậy bất tiêu bất diệt, nên phải luân hồi chuyển kiếp, tùy theo công quả của ta cấu kết nơi trần thế đây. Hễ hiền thì thăng, dữ thì phải đọa, vay vay, trả trả, y theo Thiên Ðiều phán định, lỗ kim không lọt, một mảy chẳng sai nên Thánh nhơn Ngài có chỉ trong câu: “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu!“.

Than ôi! Ít người nghĩ cho kỹ, vì trong cuộc trần thế nầy nhiều bẫy rập, níu kéo chúng sanh đem thân trần cấu gieo miền trầm luân. Ai ai cũng tranh giành nhau trên đường danh bể hoạn, lo ăn ngon mặc đẹp, ở lầu cao gác rộng, nhà dọc dãy ngang, thềm gấm sân hoa, tiêu xài huy hoát. Than ôi! Ðường thế bày trò hư hoại, người bị chôn lấp trong chốn hí tràng qua lại ngựa xe. Than ôi! Nhân loại chỉ biết Ðời, bao giờ nghĩ đến Ðạo, người một Ðạo cùng nhau mà nhiều khi nhìn như kẻ Tần người Việt, trong một làng một xóm với nhau mà coi như cách biển Sở sông Ngô, chỉ bo bo lo cho mình, một mình mình ấm, một mình mình no, một mình mình yên vui, một mình mình sung sướng, từ sớm mai đến tối, từ tối đến sáng, thỏn mỏn lần lựa tháng ngày cứ lo giành giựt, giựt giành, lao thân tiêu tứ. Ít ai nghĩ hồn lìa khỏi xác thì đem theo có một chữ tội với một chữ phước. Người có tu tâm dưỡng tánh biết thương đồng loại biết giữ đạo nhơn luân thì hồn được siêu thăng tịnh độ!

Người ít nhơn đức hơn nữa, đều cũng có làm lành lo âm chất trong khi ở thế, thì được đầu thai lại mà hưởng phước. Còn kẻ vô đạo đức, không kể nhơn luân, chẳng biết thờ kính Trời Phật Tiên Thánh thì phải bị đọa A Tỳ, chịu ngục hình khảo phạt trừng trị những tội ác đã kết ra trên thế sự. Ấy là những việc huyền bí nhiệm mầu trong Ðạo.

Người muốn cho linh hồn khỏi mấy điều khổ nhục ấy, thì phải biết đạo mà trau giồi hạnh đức, phải lo tu tâm dưỡng tánh.

Tu nghĩa là trau giồi tánh hạnh.

Tu không phải từ mơi tới chiều tụng kinh gõ mõ mới gọi rằng tu.

Tu có nhiều bực: Bực Thượng thừa phải ép mình hành xác, phải nâu sồng khổ hạnh, lo làm âm chất, lo công quả cho Trời Phật, chừng quả mãn tìm chỗ u nhàn mà luyện đạo, ấy là bực Thượng thừa. Nếu trong thế gian mỗi người đều phế công việc mà tìm chỗ u nhàn như vậy, thì thế sự nầy phải ấm lạnh, có ai đâu mà lo nhơn đạo.

Con người ở thế mỗi cá nhân đều có phận sự, nếu bỏ phận sự thì thất nhơn đạo mà không Ðạo nào tránh khỏi nhơn đạo cho được. Người hành đạo mà bỏ nhơn đạo, không lo nhơn đạo cho hoàn toàn thì hành đạo vô ích.

Ấy vậy trước hết phải biết Ðạo, là biết có Trời, có Phật Tiên Thánh, phải biết có luân hồi chuyển kiếp. Theo nhơn đạo, trai thì lo tam cang ngũ thường, gái thì tam tùng tứ đức. Trước hết lo tu tại gia, tại thiền, tại thị, lo làm lành lánh dữ trau giồi tâm tánh chơn thành, ấy là tu, đạo làm người nhơn nghĩa lễ trí tín phải giữ hẳn hòi, tam cang phải nắm chặt.

Ở thế phải tùng theo luật thế. Ðối với quan viên chức sắc phải biết bổn phận làm dân, phải nhớ câu sám hối:

“Chớ làm con giặc tôi loàn,
Thuế sưu đóng đủ đừng toan kế tà”.

Nếu mình sanh rối loạn trong xã tắc, nếu mình không tuân pháp luật thì mình là người loạn, có đạo đức chi.

Ðối với cha mẹ, anh em chị em vợ chồng con cái thì phải biết công sanh thành dưỡng dục là ơn trọng không kể xiết, phải giữ câu hiếu để mà bồi đắp ơn sâu.

Anh em cốt nhục đồng bào, phải giữ chữ thuận hòa cho vẹn.

Vợ chồng nghĩa nặng, đối đáp nhau như cân thăng bằng, giữ được vậy mới trọn nghĩa.

Ðạo làm cha là thay mặt cho Tạo hóa đặng dìu dắt linh hồn ấu nhi trọn bề đạo đức.

Người nào giữ Nhơn đạo cho hoàn toàn thì lo gì không gần Thiên đạo.

Thượng Ðầu Sư
THƯỢNG TRUNG NHỰT

Phụ ghi: Theo nguyên bản chánh ghi là:
Từ trước nước Nam chẳng Ðạo nhà,
Nay Ta gầy dựng lập nên ra.
Ví dầu ai hỏi sao bao nả?
Rằng trẻ roi sao biến hóa già!

Ðối chiếu lại với Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.1 Thi Văn Dạy Ðạo bài thi Tứ tuyệt thứ 100 ghi là:
Từ thử nước Nam chẳng Ðạo nhà,
Nay Ta gầy dựng lập nên ra.
Ví bằng ai hỏi sao bao nả,
Rằng trẻ noi sau biến hóa già.

Chúng tôi xin căn cứ theo bản in của Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.



Viết bình luận...