Tiểu Sử ÐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT

Văn tế Ðức Qu. Giáo Tông, do Ðức Hộ Pháp đọc tại Ðại Ðồng Xã.


ÐẠI ÐẠO TAM KỲ PHỔ ÐỘ
(Ðệ Thập Niên)
TÒA THÁNH TÂY NINH
THẬP NGOẠT, NHỊ THẬP NGŨ NHỰT

VĂN TẾ
của Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài về phần Giáo lý

Thưa Chư Chức Sắc Thiên Phong,
Chư Ðạo Hữu Nam Nữ,
Chư Quí Ông, Quí Bà.

Giữa thế kỷ hai mươi nầy, toàn địa cầu nhơn sanh đều xu hướng về đường vật chất, đua tranh náo nhiệt, mạnh đặng yếu thua, khôn thì còn, dại thì thác, làm cho cả cá nhơn hay là trọn xã hội nào, cũng vì sanh hoạt khó khăn, mà quên hẳn tinh thần vi chủ.

Hại thay! Cơ quan của đời hiện hữu lại do nơi quyền năng vật dục mà thành hình, đến đổi trừ tinh thần ra, thì trí thức con người cũng lậm nhiểm lấy quyền duy vật, đạo đức tinh thần xem ra càng ngày càng mòn mỏi. Nếu chúng ta thấy cơ quan hành động của các Tôn giáo còn mảy may duy trì lại có đặng là nhờ khuôn viên tập tục, chớ chẳng phải nơi tâm lý chuẩn thằng.

Qua trận sát khí Âu Châu, những bậc ưu thế, mẫn thời để tâm nghiên cứu nguyên thủy sự bất hòa của toàn cầu do đâu mà sản xuất, thì đã thấy đặng hiển nhiên rằng: Tại dân hóa khiếm phần đạo đức, những Tôn giáo đương thời hoặc là bị buộc ràng vào tôn chỉ hẹp hòi, hay là bị triết lý oai nghiêm mà làm cho phân chia tâm lý, nên không thể dung hòa làm môi giới cho đại đồng thiên hạ. Thuyết giao tình các Tôn giáo là thuyết trọng yếu của nhà hiền triết Á Âu buổi nầy.

Ôi! Hạng trí thức nhơn sanh ấy, khi xem đặng con đường nguy hiểm của văn minh duy vật giong ruổi thẳng tới chừng nào thì lại càng âu lo khủng khiếp cho tương lai nhơn loại buổi sau kia chừng nấy.

Ðời chẳng khác nào như chiếc thuyền chịu sóng gió ba đào lênh đênh khổ hải. Những khách giang hồ của tạo công ai lại chẳng phập phồng rơi châu đổ ngọc. Trong cơn khổ não tâm hồn ngẫu nhiên lại gặp cứu tinh giải nạn là Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ của Thượng Ðế chấn hưng Tôn giáo.

Người đến đặng nhìn nhận các Ðạo là phương giáo hóa của Người và dung hợp các triết lý của đời dưới phép lương tâm làm chủ. Dầu ai để chút tâm nghiên cứu thì đủ hiểu cơ quan chuyển thế rõ ràng nên không cần luận giải.

Từ năm Bính Dần (1926) là năm Ðạo mở tại Nam Kỳ, đến nay Anh Cả chúng tôi là Lê Văn Trung, Ðạo Tịch Thượng Trung Nhựt ra đảm nhiệm vai tuồng rất lớn lao, quan hệ là phổ độ dìu dắt nhơn sanh vào đường Chánh giáo.

Một mối Ðạo rất cao thâm mầu nhiệm mà chính mình Ðức Thượng Ðế đem gieo truyền trong nước nhỏ nhen như Việt Nam ta đây, thiết tưởng sự khó khăn chẳng nhỏ, mà Anh Cả chúng tôi trọn chịu 9 năm trường, chẳng quản nhọc nhằn, tay chống vững Ðạo thuyền, bền chí lướt qua khổ hải.

Ðạo mở vào buổi nhơn sanh đang khuynh hướng về đường vật chất thì cái tôn chỉ Ðạo tất phải có thiệt lực gì cực kỳ mãnh liệt mới dung hòa nỗi hai thuyết duy tâm và duy vật và phải hạp thời thì nhơn sanh mới chịu hoan nghinh mà bước vào cửa Ðạo. Nếu Ðạo mà không có cái Tôn chỉ duy tân cải cách theo trình độ tiến hóa của nhơn sanh thì Ðức Thượng Ðế chẳng cần nhọc công tái lập, vì Ðạo vẫn có từ tạo Thiên lập Ðịa mà trong nhân gian cũng đã lập thành nhiều nền Tôn giáo, để tùy thời mà tế độ quần linh. Trong các Tôn giáo ấy như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo, Cơ Ðốc giáo, cũng có nhiều triết lý cao siêu, có thể cứ do theo đó mà hành Ðạo cũng đặng tiến hóa, nhưng mỗi Tôn giáo ấy đều có một tôn chỉ đặc biệt, có thể hạp với mỗi phong hóa tùy mỗi thời đại, chớ không đặng một tôn chỉ thống nhứt hạp theo thời đại buổi bây giờ. Ðạo đã có những điều kiện tối tân như thế thì tất phải có người tài đức ra làm hướng đạo mới hiểu rõ tôn chỉ của Ðạo mà truyền bá cho nhơn sanh, khỏi lầm đường lạc lối, và cũng phải có đại hùng đại lực mới gánh vác nổi trách nhiệm lớn lao của Ðại Ðạo. Anh Cả chúng tôi đây, trước khi vào Ðạo vẫn là người duy vật cũng như mọi người khác, ngoài đời vì đường danh lợi, Người cũng chẳng nhượng chi ai, kịp khi Ðạo mở Ðức Thượng Ðế kêu đích danh Người mà phú thác Ðạo Trời.

Phong trào duy vật đang sôi nổi, người lại đương thời phấn đấu, mà Người cũng vui lòng phế hết việc đời để hiến thân cho Ðạo. Buổi ban sơ mới có vài ba anh em trong Ðạo, cũng có kẻ trắng người đen, không đồng tâm chí, lẩn nghịch cùng nhau, rồi nào ai dám chắc sẽ ra làm sao đâu? Nhưng vì lòng háo đức của Người sẵn có, nên Người không chút ngại ngùng bạo gan chí sỹ mà hiến mình trọn vẹn lập Ðạo mới thành, công ấy, thưởng nầy làm Anh Cả chúng sanh cũng đáng.

Vào Ðạo rồi, khi thì lập Ðàn thỉnh giáo cùng các Ðấng Thiêng Liêng, khi đi phổ độ khắp Nam Kỳ, không nói ra ai ai cũng rõ, những nỗi khó khăn về sự hội hiệp ở xứ mình cho nên lúc khai Ðạo phải gặp nhiều nỗi tân khổ, lại còn nhiều nỗi cam go, đối với Ðạo Hữu các nơi. Khi Ðạo đã có mòi hoằng hóa, sau lại Hội Thánh Ngoại Giáo thành lập ở Kim Biên, tuy gặp lắm nỗi truân chuyên, mà Người cũng cứ nhứt tâm, nhứt đức do đường thẳng tiến hành, không bao giờ nản lòng thối chí.

Vì sao Ðức Thượng Ðế không chọn người nào khác, lại đem mối Ðạo lớn lao mà trao lại cho Người lúc ban sơ? Mà những người có công tu luyện theo Ðạo này, Ðạo khác cũng chẳng hiếm gì, mà sao Ðấng Chí Tôn không dùng ai trước?

Có ai dám nói Ðấng Chí Tôn dùng lầm.

Vậy thì, tôn chỉ của Ðại Ðạo đã biểu lộ ra rõ ràng, bí quyết đoạt Ðạo chẳng phải do một mặt yểm thế để tịnh dưỡng tinh thần, mà lại phải lịch lãm nhơn sự và phải siêu quần xuất chúng, rồi lấy đạo đức mà cứu vớt nhơn quần.

Xã hội phải tùy sở như của chúng sanh mà lập phương phổ hóa, thì cái công tu luyện kia mới bổ ích cho. Vì vậy mà Anh Cả chúng tôi mới đắc dụng trong Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Anh Cả chúng tôi là người gồm có nhiều điều kiện hạp với tân thời, mà cũng không nghịch với phong hóa cũ.

Vậy nên , Ðấng Chí Tôn mới dùng người để làm mô phạm cho anh em Ðạo Hữu và cho đời thấy rõ một phần chơn lý trong tôn chỉ Ðại Ðạo.

Theo thời đại khoa học đương nỗ lực phát dương này, nếu đem cái thuyết duy tâm cực đoan mà phổ hóa chúng sanh không khỏi bỉ lậu, còn nếu chuyên một mặt duy vật mà tiến hành thì xã hội phải có ngày tiêu diệt về nạn cạnh tranh phấn đấu. Vậy phải chiết trung hai thuyết mà dung hòa thì đời mới đặng vừa tấn hóa theo văn minh khoa học, vừa duy trì đặng tâm hồn đạo đức. Nhờ hiểu ý nghĩa cao thâm như vậy mà Anh Cả chúng tôi không vì hoàn cảnh mà phải quá ư thiên lệch về một mặt nào.

Chúng tôi còn nhớ lời tuyên bố rất thành thật của Anh Cả chúng tôi như vầy:

Ngày nào nhơn sanh còn khốn khổ, thì chưa phải ngày anh tọa hưởng an nhàn. Dầu anh đắc quả mà qui tiên đặng sớm, anh cũng nguyện tái kiếp để độ tận chúng sanh“.

Hùng hồn thay! Bác ái thay là lời tuyên bố ấy! Không cần khoe khoang bằng văn chương tuyệt bút mà những lời chất phác trên kia cũng tỏa đặng tâm tình của một trang đại đức.

Theo thế thường người nào đi tu cũng có cái hy vọng đắc Ðạo thành Tiên, chớ ít ai lẫn lộn trong chốn trần la vì sợ khổ tâm nhọc trí. Vậy mà Anh Cả chúng tôi chẳng hề nao núng, thậm chí có người lo sợ dùm, nên đến khuyên Người giải quyền nhập tịnh cho yên, mà Người nói rằng: “Dầu phải thời tử Ðạo, Người cũng vui lòng, chớ Người không vì sợ chết mà bỏ phận sự“. Xem đó thì đủ thấy cái đại chí của Người vì Người thấu mục đích tối cao của Ðạo. Mà tôn chỉ của Ðạo có cái ý nghĩa “không dữ mà hùng, hòa mà không nhược”.

Cái ý nghĩa đó Anh Cả chúng tôi hiểu thấu mà cũng đã thật hành rồi, nền Ðạo mới đứng vững đến ngày nay.

Anh Cả chúng tôi lại còn hiểu rộng cái nghĩa “từ bi, bác ái” mênh mông lai láng, nên phải gặp nhiều cái phản động lực của những người thiển kiến.

Bởi vì từ bi bác ái mà hiểu nghĩa hẹp hòi quanh quẩn trong hoàn cảnh của mình thì cũng còn là “ích kỷ”. Anh Cả chúng tôi không vì sự thương thấp thỏi của thường tình mà bỏ cái thương đại đồng thế giái, cho nên phải gặp nhiều nỗi tân toan. Tuy vậy mà Anh Cả chúng tôi vì công đức hơn là vì tư đức, dầu ai muốn nói sao thì nói, làm sao thì làm, Người cứ một mực tiến hành, miễn là trong tâm nhứt quyết đuổi theo một chủ nghĩa cao siêu của bề trên phú thác vì lòng tín ngưỡng của Người rất là đặc biệt, ít ai sánh kịp.

Ngày nay Anh Cả chúng tôi đã vào cõi hư vô rồi, thiết tưởng những phản động lực kia cũng lần lần giảm bớt. Anh em trong Ðạo cũng đã rõ thấy mà nhận thức cái chơn lý sờ sờ kia vậy. Cái khó nhất là phải có đủ đức kiên nhẫn để chống lại với các phản động lực ở trong Ðạo và ngoài Ðời. Trong Ðạo cũng vậy, mà ngoài Ðời cũng vậy, có nhiều lý thuyết tương phản nhau vì trí độ phàm của con người không thể đồng nhau đặng. Kẻ thì ưa thuyết duy tâm, rồi cứ chuyên chú một mặt tiêu cực, còn người lại thích duy vật thì chuyên chú một mặt tích cực, mà mỗi phía đều cực đoan thì tránh sao khỏi xung đột. Hai phía xung đột nhau mà bắt Ðạo ở trung gian làm nơi chiến địa thì kẻ cầm quyền trong Ðạo tránh sao khỏi những nỗi khó khăn, vì vậy mà Anh Cả của chúng tôi chịu nhiều đau đớn. Ôi! Một Ðấng anh hùng như thế, một tay kiện tướng của Ðạo như thế, nay đã ra người thiên cổ.

Dẫu phải gan sắt dạ đồng cũng phải rơi châu mà thương tiếc.

Anh Cả ơi!

Trong mấy năm Ðạo mở, biết bao nhiêu công nghiệp với giang san.

Vì thương Ðời mà khổ hạnh đa đoan,
Bởi mến Ðạo tân toan lắm nỗi.
Ðời hằng đổi lòng kia chẳng đổi,
Non dầu mòn chí nọ không mòn!
Mấy mươi năm phơi trải tấc son,
Trọn một kiếp bảo tồn phong hóa.
Ðường thế gập ghềnh bền chí cả,
Thuyền từ lắc lẻo vững tay chèo.
Trải bao phen lên ải xuống đèo,
Ðã lắm lúc đăng sơn quá hải.

Nhớ Linh xưa:

Ðối cùng bằng hữu hết tình quảng đại,
Xử với gia đình trọn ngãi từ hòa.
Tưởng cùng nhau sum hiệp một nhà,
Hay đâu nỗi người về kẻ ở.

Anh Cả ơi!

Ðã đành rằng thiên số hữu kỳ,
Nhưng nghĩ đến cũng đau lòng trần khách.
Vậy mấy em tạm vái lời thiết thạch,
Chúc hương hồn nhẹ tách Cửu Tiêu.

Hỡi ôi! Thương thay!

Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài đồng huy lụy!

Hộ Pháp
PHẠM CÔNG TẮC



Viết bình luận...