TIỂU SỬ
Vài ngày sau khi Ông Lê Văn Trung tạ thế, nhơn tôi có tỏ dấu thương tiếc với một người bạn thanh niên du học, người ấy liền nói:
– Ông Lê Văn Trung đã làm được cái gì mà anh thương tiếc?
– Vậy chớ gần một thế kỷ nay những người An Nam “sống lâu ra lão làng” như anh với tôi đã làm được cái quái chi?
Ðối với câu nói sắp nhập như kia tất phải có câu trả lời tiêu cực như thế. Chớ xét ra, ở giữa thời kỳ “nước nhà nhiều nạn” nói khó, tư tưởng cũng còn khó thay, huống chi là việc làm, thì hễ ai làm được điều chi, dầu cho sự ích lợi của nó nhỏ nhen thế nào, mà mình đã có thể biểu dương được thì cũng nên biểu dương.
Ông Lê Văn Trung đã làm được cái gì?
Ðiều đó chưa biết. Cái điều mà ai cũng nên biết là phải tìm coi cho rõ Ông Trung đã làm được cái chi chưa?
Ai là người đã nghĩ rằng Ông Lê Văn Trung chẳng hề làm được điều chi đáng cho chúng ta chú ý, thì hiện nay chắc họ cũng ăn năn, nhận sự lầm lỗi của họ.
Ông Lê Văn Trung đã làm được cái gì?
Ðiều đó chưa biết. Chúng tôi chỉ biết rằng từ hôm ông chết đến nay, ở Tòa Thánh Cao Ðài Tây Ninh, số người mỗi ngày đến chịu tang, lấy muôn mà kể. Già trẻ, bé lớn, đàn ông, đàn bà ở Lục Tỉnh, ở Nam Vang, ở Lèo, thảy đều thương tiếc, khóc than, chẳng khác nào con mất cha mẹ. Nếu như có thể lấy những “Chuôn” vải trắng bịt trên đầu để làm thước đặng đo sự nghiệp, công đức của một người quá vãng, thì ta có thể nói rằng sự nghiệp, công đức của Ông Lê Văn Trung là lớn nhất ở Nam Kỳ nầy vậy.
Trái lại, dầu cho có ai bảo rằng sự nghiệp ngưỡng mộ ấy đều do ở điều mê tín tàm vơ mà sanh ra, thì họ cũng phải công nhận rằng đó là một cái tâm lý quần chúng cần phải nghiên cứu, là một “việc xã hội” cần phải điều tra.
Muốn nghiên cứu tâm lý ấy, muốn điều tra “việc xã hội” ấy, thì tôi tưởng chẳng chi hay hơn là xét cho rõ lai lịch của người đã đào tạo ra tâm lý ấy và “việc xã hội” ấy.
Ý nghĩa của vài tờ tiểu sử nầy là vậy đó.
Huống chi, “Nữ vị duyệt kỷ giả dung, Sĩ vị tri kỷ giả tử”. Tôi tuy không phải là người trong Ðạo Cao Ðài, song từ ấy đến nay và nhứt là trong hai năm gần đây, Ông Giáo Tông Lê Văn Trung bao giờ cũng lấy tình của người bạn vong niên mà đãi tôi.
Tôi còn nhớ, cách chừng một năm nay, sau khi ông NGUYỄN PHAN LONG lấy tư cách Giáo Sư Cao Ðài lên Tòa Thánh Tây Ninh ngồi làm Chủ Tọa “Hội Vạn Linh” để buộc tội Ông Giáo Tông mà rồi cũng không có hiệu quả, Ông LÊ VĂN TRUNG kêu tôi mà nói: “Cái kết quả của “Hội Vạn Linh” nầy không phải là để rửa sạch những điều họ đã vu cáo cho tôi, mà chính là để cho “Ðạo” được thêm một Tín đồ trí thức NGUYỄN PHAN LONG“.
Lại một hôm, nhơn bàn về vấn đề Tôn giáo, tôi nói với Ông LÊ VĂN TRUNG:
– Tôi nhớ như tuồng một nhà Văn sĩ Ăng Lê kia đã nói: “Tôn giáo nầy mà khác với Tôn giáo kia cũng giống như những nhà đăng cao, tuy là khi mới trèo lên, thì người ở bên chơn núi nầy, kẻ ở chơn núi kia, chớ chừng đến trên đảnh cũng gặp nhau một chỗ”.
Ông trả lời:
– Ðạo Cao Ðài chúng tôi cũng vậy. Song chỉ có một điều khác, là muốn sao từ khi đương ở dưới chơn núi, thì tất cả các nhà đăng cao đều đã biết nhau, yêu nhau.
Gần đây, sau khi Ông đi diện yết Quan Toàn Quyền Robin vừa ra, tôi hỏi:
– Quan Toàn Quyền có hỏi chi đến việc Ngài trả Bắc Ðẩu Bửu Tinh lại cho Chánh phủ chăng?
– Có, Quan Toàn Quyền có khuyên tôi lấy lại. Song tôi đã bẩm với Ngài rằng: Trả hay không trả Bắc Ðẩu Bửu Tinh là một việc nhỏ dễ tính.
Cái người của ông, bình sanh, bất kỳ là đối với việc gì, cảnh ngộ nào, ông cũng ung dung, hòa nhã; nói chậm rãi mới nghe qua như tuồng thờ ơ, mà xét kỹ lại, thì thâm trầm, ý vị.
Chỉ duy trong những lúc đêm tàn, canh vắng, bên ngọn đèn khuya, hay là dưới bóng trăng nuối, ông mới đem ít nhiều tâm sự mà than thở với những người bạn thanh niên như chúng tôi đây.
Cái tâm sự mà ông đã đặt tên cho nó là “Nhơn Ðạo”.
Cái “Nhơn Ðạo” ấy, ai là người trong Ðạo Cao Ðài sẽ kế chí ông?
Về phần tôi, tôi chỉ biết lấy tình tri kỷ mà vẽ sơ lại con đường của ông đã trải qua, để họa may gần đây sẽ có kẻ nối theo đó mà đi cho đến mục đích của ông đã tự kỳ: Do Thiên Ðạo mà lo Nhơn Ðạo, lo Nhơn Ðạo cho xong để tròn phận sự đối với Thiên Ðạo.
Ông LÊ VĂN TRUNG, người hạt Chợlớn, con ông LÊ VĂN THANH và bà VĂN THỊ XUÂN, sanh tại làng Phước Lâm, tổng Phước Ðiền Trung, trong năm 1875. (1)
Sanh ra được vài tháng, thì ông thân của Ngài tạ thế.
Tuy là sớm phải gặp cảnh mồ côi cha, song cũng nhờ gốc thuần phong mỹ tục của nhà ruộng rẫy xứ nầy, và sự dạy dỗ có nghĩa phương của một bà từ mẫu, nên việc học vấn của ông cũng tuần tự theo trình độ trí thức của phần đông lúc bấy giờ mà mỗi ngày mỗi được tăng tấn.
Qua năm 18 tuổi, nhằm ngày 14 Juillet 1893, thì ông đã được bổ vào ngạch thơ ký Chánh phủ Nam Kỳ.
Chẳng bao lâu ông lại từ chức, ra tranh cử Hội Ðồng Quản Hạt quận nhì (Gia Ðịnh – Chợlớn – Tây Ninh – Thủ Dầu Một – Bà Rịa – Cap-St-Jacques).
Ông thường hay nhắc lại việc nầy mà nói: “Cái ma lực buộc người hay có xa vọng về chánh trị nó mạnh lạ thường. Tranh cử lúc đó còn phải tốn tiền hơn bây giờ xấp trăm, xấp ngàn. Vậy mà tiền không, thế lực nỏ có, thì tranh cử cái gì, mà tôi cũng xin thôi việc quan đặng ra tranh cử?“.
“Người ta là con vật chánh trị!”. Văn sĩ xưa nào đã nói như vậy.
Ông đắc cử vào làm Nghị viên Quản Hạt lần thứ nhứt nhằm khoản năm 1906.
Thầy thư ký mồ côi, nhà nghèo, thiếu trước hụt sau, mà nay đã nghiễm nhiên là một ông dân biểu, lại thêm nhằm lúc dân trí chưa mở mang, Hội Ðồng Quản Hạt chỉ còn là cái máy ghi chép “đít cua” thì đáng lẽ ông cũng theo thường, “quì quì, dạ dạ” để xin “mày đai” Huyện hàm, khẩn đất mà thủ lợi.
Thế mà không, sau khi đắc cử, Hội Ðồng mới nhóm một kỳ đầu tiên, thì đã gặp ngay bản dự thảo thuộc về “Lục hạng điền” của ông Outrey, quyền Thống Ðốc Nam Kỳ, trình xin Hội Ðồng phải thảo luận và thừa nhận.
Ông và ông Diệp Văn Cương, Hội Ðồng Bến Tre, đứng ra cầm đầu cho tất cả 6 ông Quản Hạt Annam phản kháng lại bản dự thảo của Chánh phủ.
Song, số Nghị Viên Annam lúc bấy giờ chỉ bằng phân nửa số Nghị Viên Langsa, thì dầu cho có phản kháng kịch liệt thế nào, cứu cánh rồi cũng chẳng có kết quả.
Tình thế chính trị như vậy mặc dầu, ông cùng các người đồng chí cũng chẳng chịu thua Hội Ðồng Quản Hạt, với mười mấy lá thăm Langsa, vừa thừa nhận khoản thuế “Lục hạng điền” thì bên nầy, tất cả sáu ông Hội Ðồng Quản Hạt Annam đều gởi đơn từ chức.
Ðối với thái độ ấy, có lẽ ngày nay chúng ta chẳng lấy chi làm lạ. Song nếu chúng ta thử tưởng tượng lại cái hoàn cảnh chánh trị cách 30 năm nay, thì dám làm như thế, dám phản kháng Chánh phủ một cách công nhiên như họ đã làm, thật là một việc đáng khen, và không phải là không có chi nguy hiểm cho những người xướng xuất.
Từ chức xong, tất cả sáu ông đều ra ứng cử lại và thảy đều được tái cử. Trừ duy ông Hội Ðồng Hoài, bị ông Bùi Quang Chiêu a phụ với ông Outrey xúi người bà con là ông Bùi Thế Khâm ra phá nên thất cử.
Hội Ðồng Quản Hạt mà được trở nên một Nghị trường có nhiều ít thanh thế một đôi vẻ chánh trị có lẽ cũng là nhờ vụ “Lục hạng điền” làm nước bước đầu tiên vậy.
Trong bước đầu tiên ấy, ông Lê Văn Trung lại là một người hướng đạo rất khẳng khái.
Thế lực chánh trị của ông, từ đó về sau, mỗi ngày mỗi càng lớn thêm. Ðối với cử tri, lúc bây giờ tức là các Hương chức, thì ông là một người đã bảo thủ quyền lợi của nông dân điền chủ, đối với Chánh phủ, thì ông là một người trong những người mà các nhà đương đạo khó khinh thường.
Nhờ thế lực ấy, nên trong năm 1911 ông mới hiệp sức với một vài nhà trí thức, quyền bính Sàigòn, Chợlớn mà khởi xướng được một vài việc rất mới mẻ có quan hệ mật thiết, ảnh hưởng lớn lao ở giữa xã hội Việt Nam ngày nay.
Tôi muốn nói về việc lập Nữ Học Ðường.
Ðương giữa buổi mà sự giáo dục của con trai, đàn ông, còn hãy phôi thai, cậu nào đậu được bằng cấp Thành chung là đã tự thánh, tự thần, xách đi cùng Lục tỉnh đặng kiếm vợ giàu; đương giữa buổi mà những anh chàng du học đem về được cái bằng cấp Tú tài, thì đã hô lớn lên một cách rất vinh diệu, tự đắc rằng mình quên hết tiếng Annam; đương giữa buổi mà khắp cả cha mẹ trong nước đều công nhận rằng: Cho con gái có nhiều ít học thức là một mối hại lớn cho gia đình, cho xã hội; đương giữa buổi như thế mà đứng ra đề xướng nữ học, xin lập trường Nữ học để dạy bên gái bằng như bên trai, có phải là một việc quá bạo gan chăng? Những người đề xướng có phải là những bực tiên kiến chăng?
Bạo gan thật, tiên kiến thật, vì Chánh phủ lúc bấy giờ, như tuồng cũng cho việc ấy là một việc chưa hợp thời, lại trái với phong tục cũ kỹ của Annam, nên chi tuy là không ngăn cấm, song cũng chẳng chịu xuất công nho ra làm chi phí, mà chỉ để cho những người xướng xuất mở cuộc lạc quyên, góp của công chúng, cất lên được mấy tòa nhà đồ sộ mà chúng ta còn thấy ở đường Le Grand de la Liraye; tòa nhà ấy đã đào tạo ra biết bao nhiêu nhơn tài trong nữ giới.
Vậy mà nếu ai chịu khó lật cuốn sổ lạc quyên năm nọ ra xem, thì sẽ thấy ở dưới mấy lời tuyên bố có tên của ông Lê Văn Trung là người khởi xướng đứng kế phương danh bà cụ Tổng Ðốc Ðỗ Hữu.
Trong một cái phạm vi chánh trị eo hẹp, dưới chế độ chẳng phải khinh thường mà đã làm được những việc tôi vừa nhắc lại trên đây, thời tuy nó chưa phải là những sự nghiệp của anh hùng, vĩ nhơn, song thế cũng đủ gọi rằng khỏi mang tiếng “quì quì, dạ dạ” là cái danh hiệu của phần đông trong mấy ông Hội Ðồng, từ xưa đến nay, ở xứ này.
Ðó là sự nghiệp.
Còn công danh, nếu lấy theo nghĩa hẹp của nó và theo thế tình, thì ông Lê Văn Trung, Hội Ðồng Quản Hạt, Nghị viên Thượng Nghị Viện, thưởng thọ Bắc Ðẩu Bửu Tinh, sanh tiền cũng đã từng có đủ công danh.
Nhưng, than ôi! Dầu cho những điều đó mà có thể gọi là công danh, sự nghiệp đi nữa, đối với người đã lấy lòng tín ngưỡng làm phương châm cho sự hành vi, lấy đức bác ái, phổ độ làm mục đích cho cái đời sống, thì công danh, sự nghiệp cũng chẳng nên nhắc lại làm chi.
Vả trước khi đem thân phàm tục để nhờ con “Mắt” huyền diệu của Thầy soi thấu, thì Ông Lê Văn Trung cũng đã lãnh đạm với công danh sự nghiệp ấy.
Ba bốn tháng trước khi nhập Ðạo, Ông Lê Văn Trung đã gởi đơn đề ngày 6 Octobre 1925 cho Quan Thống Ðốc Nam Kỳ mà xin từ chức Nghị Viên Thượng Nghị Viện.
“Mãi đến ngày mồng năm tháng Chạp năm Ất Sửu (28 Janvier 1926) ở Saigon, Ðức THƯỢNG ÐẾ giáng cơ dạy hai ông Cư và Tắc, đem cơ vô nhà ông Trung (Chợlớn, Quai Testard) cho “Ngài” dạy việc. Hai ông này lấy làm bợ ngợ, vì thuở nay chưa hề quen biết ông Trung …”
Chuyện trên đây tôi do ở cuốn sách “Ðại Ðạo Căn Nguyên” của Ðạo Cao Ðài mà chép ra và chỉ để ghi lấy ngày nhập Ðạo cho tiện sự chia cái đời của ông ra làm hai đoạn.
Ðoạn trước, ở thế gian, từ ngày 14 Juillet 1893, ông được bổ ra làm thơ ký, cho đến 6 Octobre 1925 là ngày ông từ chức Nghị viên Thượng Nghị Viện.
Ðoạn sau, thuộc về đời hành đạo, đời tu niệm của Ông, từ 28 Janvier 1926 cho đến 19 Novembre 1934.
Bước đường ở ngoài thế gian trong khoản 32 năm được hanh thông chừng nào, thì 9 năm trong Ðạo lại càng mắc phải nhiều khổ hạnh chừng nấy.
Sau khi nhập Ðạo chưa đầy một năm, Ông với các Ðạo hữu đi thuyết đạo khắp cùng Lục Tỉnh và nội trong mấy tháng mà số người theo Ðạo Cao Ðài tính hơn một triệu, thì ông cùng bà Lâm Hương Thanh, Chánh Phối Sư, với 247 người Ðạo hữu đứng vào một lá đơn trình với Chánh phủ xin phép khai Ðạo.
Lá đơn ấy đề ngày 29 Septembre 1926. Nó là tấm Giấy Khai Sanh của Ðạo vậy.
Lúc bấy giờ, Ðàn cầu cơ đã có khắp cả mọi nơi, Cầu Kho, Chợlớn, Tân Kim, Lộc Giang, Tân Ðịnh, Thủ Ðức, mỗi chỗ đều có người chủ trương riêng. Vì Ðạo Cao Ðài là do ở Cơ bút phát sanh; điều đó ai cũng biết.
Tuy nhiên, chí kinh dinh kiến tạo của Ông ở ngoài đời Ông vẫn đem nó theo để làm cho đạt một mục đích khác.
Vì Ông nóng lòng về sự lo cho nền Ðạo được thống nhứt, nên nội trong năm đó, ngày 19 Novembre, đêm 14 rạng mặt Rằm tháng Mười năm Bính Dần, thì làm lễ Khánh Thành Thánh Thất ở Từ Lâm Tự và lễ chánh thức Khai Ðạo.
Tính từng ngày một, từ 19 Novembre 1926, ngày Khai Ðạo cho đến 19 Novembre 1934, ngày ông mất, cộng là 8 năm, không thiếu, không dư một bữa.
Trong điều đó có chi huyền diệu chăng?
Huyền diệu hay không, tôi tưởng ai là Tín đồ Cao Ðài, thời cũng phải lấy ngày đó làm một ngày kỷ niệm rất quí hóa, kỷ niệm lễ chánh thức khai Ðạo, kỷ niệm húy nhựt của Ông Quyền Giáo Tông và kỷ niệm cho nhớ rằng hành đạo là một việc khó, cơ bút thường hay có những điều lưu tệ. Vì chánh ngay đêm đó, có hai Tín đồ nam và nữ tự xưng là Tề Thiên Ðại Thánh, và Quan Âm Bố Tát nhảy lên làm cho công chúng thất vọng.
Và cũng vì việc rắc rối ấy mà làm cho ai nấy đều ngã lòng, thối chí, thành thử nổi lên một cuộc công kích rất kịch liệt do những người hoặc vì thiển kiến, hoặc vì tư lợi mà sanh ra.
Có một điều lạ chẳng ai ngờ, là cái hiệu quả của cuộc công kích ấy chỉ làm cho số Tín đồ Cao Ðài mỗi ngày mỗi đông thêm.
Cách đó chẳng bao lâu, Thánh Thất Cao Ðài lại phải dời về nơi sở rừng 140 mẫu, tọa lạc tại làng Long Thành, Tây Ninh, cho đến bây giờ.
Trong khoảng thời gian từ ngày lập Ðạo cho đến lúc dời Thánh Thất về làng Long Thành, ông Lê Văn Trung đã trải biết bao nhiêu công khó mới gầy dựng nên được cơ sở vững chặt ngày nay. Song Ông thường hay nói với tất cả mọi người:
– “Công khó ấy đều nhờ ở lòng tín ngưỡng thành kính của anh em, chị em trong Ðạo. Công của tôi chẳng bao giờ lớn hơn công của một “Tiểu Giáo Nhi” nào.
Tuy nhiên, trong lúc vừa dời Tòa Thánh về làng Long Thành Tây Ninh, thì các Chức Sắc, các Giáo Hữu, các Tín đồ đều đã rõ thấu công lao của Ông đối với nền Ðạo, nên ai nấy đều vui mừng về việc ông được tôn lên Quyền Giáo Tông nhằm ngày mồng 3 tháng 10 năm Canh Ngọ (1930).
Vả lúc ấy, là lúc Ðạo đương trải qua thời kỳ toàn thạnh mà chủ quyền lại được thống nhứt về trong tay của một người nhiều kinh lịch, đủ nghị lực như ông Lê Văn Trung thì ai cũng tưởng nền Ðạo từ đó về sau sẽ được vững chải hơn.
Ai ngờ hai chữ “Giáo Tông” lại thành ra cái cớ để khiến những tay cầm quyền Ðạo đương thời họ đã làm cho nảy sanh chẳng biết bao nhiêu việc chia lìa, oán khích. Chẳng những là ở trong Ðạo thì họ đã buộc tội, viết tờ Châu Tri để thống mạ, mà ngoài đời, thì họ lại còn xúi giục Tín đồ lầm lạc đem những việc phi lý, vô bằng đến Tòa mà kiện và vu cáo với các nhà đương quyền rằng để cho Ông Lê Văn Trung cầm quyền Ðạo tức Cao Ðài là dung dưỡng cho một ổ cách mạng, họ đã làm cho đến nỗi lúc bấy giờ chẳng có ngày nào, mà Ông Lê Văn Trung chẳng bị ông Thẩm án nầy đòi hay là Tòa kia đem ra xử. Còn những Chức Sắc nào trong Ðạo mà ái mộ Ông Giáo Tông, thì họ lại kiếm phương nầy thế khác mà làm cho bị tù bị tội.
Ðương giữa buổi nguy nan như thế, Ông Lê Văn Trung vẫn cứ điềm tỉnh, ngồi lo sắp đặt công việc bên Nữ phái trong Ðạo, mong sao cho Nam, Nữ được bình quyền mà nói rằng: “Ðiều ấy là một cái xa vọng của tôi đã có từ khi đương còn ở ngoài đời, cho đến ngày nhập Ðạo. Lúc trước tôi đã giúp bà cụ Tổng Ðốc Ðỗ Hữu lập trường Nữ Học, bây giờ tôi hiệp sức với bà Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh tổ chức các Nữ Viện, cũng đồng một ý nghĩa. Tôi chỉ ước ao sao cho Nam-Nữ bất bình đẳng ở ngoài đời chẳng còn trong Ðạo nữa“.
Có nhiều người thấy Ông điềm nhiên như vậy, thì tức mà hỏi:
– Ngài không dùng phương pháp chi để đối phó với mấy kẻ tiểu nhơn kia sao?
– Sao mà lại được kêu những kẻ ấy là tiểu nhơn? Nếu may mà mình phải, thời tự nhiên một ngày kia người ta sẽ biết quấy, lo ngại chi sự ấy.
Song, than ôi! Lời nói đó chỉ là đúng với lý tưởng của người lương thiện, tu hành. Chớ thật tế ở đời nầy có đâu được như thế.
Sau khi đối với Ðạo, Ðạo biết Ông vô tội; đối với Tòa, Tòa biết Ông vô tội; cái danh hành Ðạo của Ông được trắng như tuyết.
Ông Lê Văn Trung, nguyên Thượng Nghị Viện thưởng thọ Bắc Ðẩu Bửu Tinh, Giáo Tông Cao Ðài, lại do hai cái án “tuần cảnh” phạt hai tên đánh xe bò của Tòa Thánh về tội không thấp đèn và bò thiếu dây buộc ách mà phải bị bắt vô chịu tù ở khám đường Tây Ninh. Ngày Ông vô khám nhằm lễ khai hạ, mồng bảy Tết năm Giáp Tuất (1934) trước Vía Trời vài ba bữa.
Tôi còn nhớ khi sơn đầm đem hai bổn sao lục của hai cái án nói trên đây vô Giáo Tông Ðường đặng bắt Ông ra Tòa Bố Tây Ninh, thì ông chậm rãi, khăn áo chỉnh tề, mang Bắc Ðẩu Bửu Tinh và huy hiệu Giáo Tông vào rồi đi theo sai nha không nói một tiếng chi khác hơn là dặn các Giáo Hữu, các Tín đồ hãy yên lặng mà lo việc cúng Vía.
Mấy ngày Ông ngồi trong khám, ngoài Tòa Thánh từ các Chức Sắc cho đến Tín đồ họ đều nhịn đói mà chờ Ông.
Mãn hạn ba ngày, Ông về Tòa Thánh, Chức Sắc, Tín đồ người khóc kẻ ôm tay Ông hun, Ông xem cũng như tuồng có ý cảm động nhiều hơn trong những dịp khác.
Làm Lễ vía Trời vừa xong, thì Ông liền viết một bức thơ gởi cho Chánh phủ mà xin trả Bắc Ðẩu Bửu Tinh lại.
Thơ ấy có nhiều câu ý vị sâu xa. Song tôi không muốn thuật ra đây, vì sau khi Quan Toàn Quyền ROBIN qua trấn nhậm, Ông đã có vào diện yết Ngài và hai đàng cũng đã điều đình công việc “tự do tín ngưỡng” của Ðạo, thì nhắc lại chuyện cũ sợ e có hại đến hòa khí của Ông đã đào tạo ra.
Tôi chỉ muốn thêm rằng trả Bắc Ðẩu Bửu Tinh là một “việc làm” sau hết của cái đời sống của ông và nhắc lại lời của ông đã cắt nghĩa “việc làm” ấy:
– “Ðừng tưởng tôi trả Bắc Ðẩu Bửu Tinh mà còn có ý chi phiền Chánh phủ, trách những nhà đương quyền lúc bấy giờ. Danh giá thể thống của Viện Bửu Tinh buộc tôi phải làm như vậy. Tôi mà nói đây chẳng phải vì nghi sợ điều chi mà chỉ vì ước ao ai nấy đều hiểu rằng tôn chỉ, mục đích của Ðạo chúng tôi là hòa bình, thân ái khắp cả chúng sanh “nhứt thị đồng nhơn” thì chúng tôi đâu được phép phiền trách hờn giận. Huống chi, theo thiển kiến của tôi đối với vấn đề thực dân, thì dầu cho lúc ban sơ nó là “việc làm do ở cường quyền” song dần dần bên cai trị và bên bị cai trị cùng nhau tiếp xúc, rồi biết rõ nhau mà yêu nhau, thì chúng ta lại có thể hi vọng rằng cái “việc làm do ở cường quyền” kia sẽ thành ra một mối dây đoàn thể, thân thiện của dân tộc nầy đối với dân tộc khác“.
Ðã nói đến thân thế sự nghiệp của Ông LÊ VĂN TRUNG tất nhiên là phải bàn đến Ðạo Cao Ðài. Vì ông là một người sáng lập, lại là một ông Giáo Chủ. Ðạo Cao Ðài mà phải, thì ông là công Thủ, Ðạo Cao Ðài mà quấy, thì ông lại là tội Khôi.
Song tôi còn nhớ Chương Thái Viêm, một nhà bác học Tàu mỗi khi thảo luận đến các vấn đề Tôn giáo đều có nói:
– “Thiên trung điểu tích, họa giả giai nan” – Dấu chơn của con chim bay trên không, thợ vẽ nào cũng phải chịu là khó.
Thật thế, người ta mà muốn tìm ra cội rễ của Tôn giáo thời chẳng khác nào chú thợ vẽ muốn vẽ dấu chơn của chim bay trên không.
Huống chi, Ðạo Cao Ðài mới phát hiện ra ở xứ nầy chưa đầy chín năm, bao nhiêu những lý thuyết hình thức của Ðạo hiện đương còn ở thời kỳ phôi thai và do Cơ bút mà có, thì chẳng thế chi nghị luận cho được xác đáng.
Người tín ngưỡng do sự thần bí mà tín ngưỡng đã đành; chí như những kẻ công kích mà cũng đem sự thần bí ra đặng công kích thì thật là lạ.
Song dầu chi đi nữa, tôi cũng nhớ rằng cái “biết” của loài người ngày nay chưa có thể chi giải quyết được những chỗ khuyết nghi ấy và ở trong khoản vài chục trương giấy viết ra cho kịp ngày điếu tang, thì tôi đâu dám đem một vấn đề trọng đại như vấn đề Tôn giáo mà nghị luận.
Tuy nhiên, trước khi ngừng bút, tôi còn muốn đứng về phương diện xã hội mà Ông Lê Văn Trung sanh tiền, thường gọi là Nhơn Ðạo, mà kết luận:
Sự hành động của Ðạo Cao Ðài, từ khi sáng lập đến nay, không phải là mỗi mỗi đều được tận thiện tận mỹ. Ở trong đời có chi là tận thiện tận mỹ? – Song nếu xét ra cho thật công bình, thì Ðạo Cao Ðài chưa hề làm điều chi có hại đến nhân quần xã hội. Trái lại, Ðạo Cao Ðài đã nhờ truyền bá giỏi, tổ chức hay mà gây nên tình thân ái, đoàn thể trong một triệu mấy dân Nam Kỳ là một việc đáng làm cho ai cũng nên kính phục.
Ðó là tôi chưa nói đến cái đức tin rất mạnh mẽ của Tín đồ. Tôi chưa nói, là vì trước khi tôi muốn nhắc cho các Thiên Phong Chức Sắc trong Ðạo có trách nhậm kế chí của Ông Giáo Tông, đều nhớ rằng: Ðức tin là một con dao hai lưỡi. Nếu dùng nó phải, thì chẳng chi lợi bằng, nếu dùng nó quấy, thì chẳng hại nào hơn.
Và chỗ đó là tội là công của Ông Lê Văn Trung vậy.
Viết tại Saigon ngày 28 Novembre 1934.
DIỆP VĂN KỲ
(1) Ghi chú:
Theo trong Giấy Căn Cước của ông thời 1876, theo trong Bằng cấp Bắc Ðẩu Bửu Tinh lại là 1875. Ông tuổi Tý, thì có lẽ là 1875 đúng hơn.
CẨN ÐỀ:
ÐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG TRÊN DÒNG ÐẠO SỬ
Nét son di lại mãi ngàn sau,
Công nghiệp Giáo Tông sử chép làu.
Liêm chính gương trong lồng Thượng Viện,
Khoan hồng lượng cả tạc Ðài Cao.
Trường đời xa lánh lòng thư thái,
Bến giác quay về gót nhẹ phao.
Thọ mệnh … lo tròn vai lãnh Ðạo,
Xây nền phổ độ lắm gian lao.
14 tháng 7 Quí Sửu (12 Aout 1973)
HUỆ NGÀN