Ai Ðiếu
Cho Vương Thành Tông PHỐI SƯ THƯỢNG TÔNG THANH
Qui liễu ngày 24 tháng 10 năm Quí Dậu (1933)
Quí Ông, Quí Bà, Chư Ðạo Hữu lưỡng phái,
Gió thu phưởng phất như gợi cơn sầu,
Tiết đông lố dạng dường soi mạch thảm.
Kìa rừng Thiên Nhiên cây sầu lá ủ,
Ðây miền Thánh Ðịa cỏ úa sương gieo,
Thảm thiết bấy trọn tháng trường mưa sa.
Não nồng thay trót tuần hoa sầu rỉ rả!
Ấy cảnh bi ai Trời cho biết trước một vị Ðại Thiên Phong phải qui liễu. Tôi cùng Ðức Hộ Pháp có dạ nghi ngờ, nên cầu hỏi Diêu Trì Cung cho biết chắc Hiền Hữu Thượng Tông Thanh phải qui liễu. Tình đồng đạo kẻ ở người đi xưa nay vẫn có.
Trước khi khép nấm mồ.
Tôi xin bày tỏ lai lịch của Thượng Tông Thanh ngõ hầu ngày sau ghi trong Sử Ðạo.
Hiền Hữu Thượng Tông Thanh sanh trưởng Trung Huê, Quảng Ðông Tỉnh, Triều Châu Phủ. Vì câu: Làm trai hồ thỉ tứ phương, nên thuở 18 tuổi trải qua Nam Việt, hồi buổi ban sơ theo người đồng hương ở Chợlớn lập thân lần đầu, nhờ tánh tình siêng năng hay lo cần kiệm mới có tư bổn riêng, lên Soài Riêng khẩn đất sắm vườn lập nên cơ nghiệp, Trời khéo đưa duyên kết Châu Trần người Nam Việt, sanh con, sanh cháu thiệt đông, nhành quế nảy chồi Chi Lan đượm nhánh, phước hậu nhờ nhiều cháu, nhiều con ít ai bì kịp.
Người Trung Quốc mà lòng rất mến Nam Thổ, tánh tình độ lượng bao dung ngoài xóm làng cũng ngợi khen, gặp người hèn ra tay tế độ, lòng hằng chẳng vạy chẳng tham, nên người Annam và Cao Miên tôn lên làm Hương Cả, giúp việc Ðình, việc Miễu, tu kiều bồi lộ chẳng tiếc công và của, âm chất người đều bổ tứ phương, chí hào kiệt qui dân lập ấp, lòng kia không ngớt, của tiền bù sớt cho anh em Nam Thổ như thể đồng hương.
Tháng qua, ngày lụn tuổi sáu mươi dư, lòng thiết thiết tư tư muốn tầm chốn u nhàn, tu tâm dưỡng tánh. Nghe Gò Kén Thiền Lâm Trời khai Ðại Ðạo, lúc Hạ ngươn năm Bính Dần, thiên hạ tứ phương dư ngàn cầu Ðạo. Thầy giáng cơ kêu: Trung, con mời Vương Thành Tông vô đây Thầy dạy việc. Tôi cùng mấy Môn đệ của Thầy hồi đó không biết kêu ai, nên tôi phải kêu lớn lên, Hiền Hữu Thượng Tông Thanh mới vào đàn nội, tôi biểu trình giấy thuế thân và tờ Sớ thì rõ như tên của Thầy giáng viết ra, Thầy thâu Hiền Hữu Thượng Tông Thanh ở luôn tại Chùa lo làm công quả. Nào làm Thông ngôn tiếng Ðàn Thổ, nào thâu Sớ nhập môn, phát Kinh sách, lo lúa gạo nuôi người tới lui được ba tháng trời, bước qua năm Ðinh Mão, Thầy mới phong Thượng Tông Thanh Phối Sư Phái Thượng.
Ðây qua năm Ðinh Mão lúc hạ tuần Thượng Ngươn đất bằng sóng dậy. Trời đang thanh bạch khiến ngút tỏa mây giăng, mối Ðạo hằng mang ách nạn, nhà thoàn đòi đất Chùa phải trả mau mau vì có đơn vào Chánh Phủ.
Bốn muôn dư Ðồ đệ của Ðấng Chí Tôn lòng dạ ủ ê, ngồi nhìn cảnh non sầu tuyết phủ, giọt lệ tuôn dầm, lo dời quả Càn Khôn cốt Phật Tổ, Tòa Bát Quái, Tượng Ngũ Chi phải đem qua đất mới Long Thành nơi Ðại Từ Phụ và Ðức Lý đã chọn. Hết lớp dời Chùa tới cường quyền áp chế, nếu kể hết truân chuyên khổ não thì Hiền Hữu Thượng Tông Thanh đồng chịu ráo. Tôi nhớ lắm khi hết gạo tôi cùng Hiền Hữu Phối Sư Tông lo sắp lo ngửa đặng nuôi Ðạo Hữu nhứt là Bắc Chiên và Soài Riêng bị lụt, Tòa Thánh phải nuôi ăn hàng ngày trên hai ngàn miệng ăn. Người hùng anh, chí chẳng hề xao lảng, giữ một dạ thủy chung như nhứt, thương mấy hồi khốn cực nhiều nỗi, bị nhiều Ðại Thiên Phong áp bức mà Hiền Hữu Thượng Tông Thanh than cùng tôi rằng: Một lòng son sắt theo cùng tôi như hồi buổi ban sơ Thầy đã dạy bảo. Vì lòng giao hảo nên một tháng trước ngày qui liễu, anh kêu tôi và mượn viết tờ di chúc để dạy cho con cháu.
NHỚ TỚI KHI ẤY:
Tay cầm tay ruột tợ kim châm,
Mặt nhìn mặt khôn ngăn giọt lệ!
Hỡi ôi! Người nước khác mà lòng không khác, nghĩ cùng lý cũng là một cuộc Ðại Từ Phụ tác thành, buộc mối thương tâm, chẳng nệ da vàng trắng đen tinh thần đều vẫn một, thương là thương cũng một người rường cột trong nền Ðại Ðạo, đồng cùng nhau chịu mấy nỗi truân chuyên mà đường qui liễu sớm chầy không cãi số Trời đã định, nơi Bồng Ðảo anh về trước, anh sùng bái Ðấng Chí Tôn, dương trần em ở lại, còn lo độ chúng. Mừng phận anh rảnh nợ tang bồng, song em thấy:
Nầy vợ yếu con thơ, dâu hiền cháu dại vắng người khuyên nhủ. Thảm thiết bấy khoác màn loan, chẳng thấy dạng chồng nhìn bàn thờ khói hương hiu hắt.
Não nùng thay hé cửa ngõ vắng cha, dòm nhà khách gió thổi lai rai.
Gẫm cuộc đời nhiều nỗi đắng cay,
Song xét kỹ cũng vì vay trả,
Biết Ðạo mầu có chi là lạ.
Người qui liễu xác thịt lìa xa chớ hương hồn thường về ám trợ dìu dắt vợ yếu con thơ, giúp Ðại Ðạo về phần vô vi như chúng ta thường thấy.
Lấp mạch sầu, un đúc đức tin rập cùng nhau cầu nguyện cùng Thầy độ rỗi hương hồn Phối Sư Thượng Tông Thanh tiêu diêu cõi thọ, giúp nền Ðại Ðạo dìu dắt chúng sanh rửa sầu thế sự.
THƯỢNG TRUNG NHỰT