Hàn Dũ, người đời Đường, sanh năm 768 tại đất Nam Dương, tỉnh Hà Nam, tên tự là Thoái Chi, thân phụ là Trọng Khanh làm Huyện lệnh, có tiếng về văn chương. Hàn Dũ mồ côi cha hồi 3 tuổi, ở với anh là Hàn Hội. Hàn Hội có công vận động phục cổ, nhưng cũng mất sớm.
Hàn Dũ thường nuôi chí lớn, tự học, nếu không phải sách của đời Tam Đại và đời Lưỡng Hán thì không dám đọc, không phải là cái chí của Thánh nhân thì không dám giữ.
Năm 19 tuổi, Hàn Dũ lên kinh đi thi, tuy rớt nhưng vẫn nổi danh về cổ văn. Năm 24 tuổi, đời vua Đức Tông nhà Đường, Hàn Dũ mới đậu Tiến Sĩ, rồi đến năm 29 tuổi mới được bổ làm quan Giám Sát Ngự Sử.
Hàn Dũ làm quan rất thanh liêm và cương trực, nên cuộc đời làm quan rất thăng trầm, thường hay bị giáng chức vì can gián vua mà không vừa lòng vua. Đời sống gia đình thì túng thiếu : Mùa xuân tuy ấm áp mà con kêu lạnh, năm tuy được mùa mà vợ kêu đói.
Hàn Dũ có tài văn chương lỗi lạc nhưng không phải là học giả uyên thâm. Hàn Dũ viết nhiều bài nghị luận đề cao Nho học và bài xích Phật giáo và Lão giáo. Ông chỉ là một văn sĩ chú trọng về đường đạo đức chớ không phải là nhà triết học có tư tưởng mới lạ cao siêu, đạt đến mức Hình Nhi Thượng học. Do đó, những nhận xét của Ông về Phật giáo và Lão giáo rất thô cạn, lại có tính cực đoan, nên Ông phê bình 2 tôn giáo nầy không chính xác; ngay cả Nho giáo, Ông cũng chỉ chú ý phần Hình Nhi Hạ học, vẫn chưa đạt được mức uyên thâm của Nho giáo.
Các bộ sách tuyển Cổ Văn thường trích những bài văn của Hàn Dũ như : Nguyên đạo, Nguyên hủy, . . . lời văn tuy nghiêm trang minh bạch, tha thiết, nhưng tư tưởng không có gì sâu sắc, không thể so sánh với các triết gia đời Tống hay đời Hán được.
Hàn Dũ có một người cháu ruột tên là Hàn Tương Tử, tánh mộ đạo Tiên. Hàn Dũ ép cháu học Nho, nhưng Hàn Tương Tử không chịu, nói rằng :
– Chú mộ công danh phú quí nên học Nho, còn cháu thì mộ đạo Thần Tiên.
Hàn Tương Tử về sau gặp được Hớn Chung Ly và Lữ đồng Tân, học đạo thành Tiên, và trở thành một trong Bát Tiên ở đảo Bồng Lai. Khi Hàn Tương Tử đắc đạo thành Tiên rồi thì muốn trở về độ chú.
Năm ấy Trời hạn hán, Hàn Dũ đảo võ (cầu mưa) đã 3 ngày rồi mà không linh. Đang ngồi buồn rầu, chợt thấy một Đạo sĩ đi ngang rao lên rằng :
– Ai muốn mua mưa tuyết, ta bán cho.
Hàn Dũ biết là bậc có tài, liền rước vào nhà nhờ đảo võ
Đạo sĩ đảo võ, lát sau mưa xuống tràn đồng, tuyết sa chất ngất. Hàn Dũ lại nói :
– Không chắc tại ai đảo võ đặng mưa tuyết dường nầy, ta đã cầu hơn 3 ngày, có khi hậu được thành công thì phải ?
– Thiệt là mưa tuyết do tôi cầu. Hãy lấy thước đo, tuyết của tôi cầu được 3 thước 3 tấc mà thôi.
Hàn Dũ lấy thước đo, đúng y như lời của Đạo sĩ vừa nói. Từ đây, Hàn Dũ mới tin là Thần Tiên có phép mầu. Đạo sĩ ấy chính là Hàn Tương Tử hóa thân về giúp chú và độ chú.
Đến ngày Hàn Dũ ăn lễ sinh nhựt, Hàn Tương Tử về chúc thọ chú. Hàn Dũ nửa mừng nửa giận, hỏi rằng :
– Bấy lâu ngươi học đạo Thần Tiên thế nào ?
Hàn Tương Tử ngâm rằng :
Đã quyết chí tu trì,
Thành Tiên chẳng khó chi.
Mây xanh hằng cỡi hạc,
Động đá cứ ngâm thi,
Đặt rượu trong giây phút,
Trồng hoa nở tức thì,
Lâu dài ngàn tuổi thọ,
Điều độ kẻ tương tri.
Hàn Dũ nghe xong liền nói :
– Ngươi cướp quyền Tạo Hóa đặng sao ? Hãy đặt rượu, trồng hoa xem thử.
Hàn Tương Tử bảo đem ché không để trên ghế, lấy mâm đậy lại giây phút, giở ra có rượu ngon đầy ché.
Hàn Tương Tử ra trước sân đào đất vun đống, tức thì mọc lên một cây mẫu đơn, bông nở rực rỡ rất lớn, đặc biệt trong bông có 2 hàng chữ nhỏ như vầy :
“ Vân hoành Tần lãnh gia hà tại,
Tuyết ủng Lam quan mã bất tiền.”
Hàn Dũ đọc tới đọc lui 2 câu thi nầy mà không hiểu ý thơ nói gì. Hàn Tương Tử nói rằng :
– Ngày sau chú sẽ biết, bây giờ không dám lậu cơ Trời.
Ai nấy đều lạ lùng. Hàn Tương Tử từ giã trở về núi.
Hàn Dũ làm chức Giám Sát Ngự Sử, một lần can vua Đường Đức Tông về những việc xa hoa trong cung mà bị biếm làm Lệnh Doãn Dương Sơn. Một lần khác, Hàn Dũ can vua Đường Hiến Tông đừng rước cốt Phật vào cung. Bên Tây Vức dâng tượng Phật, vua muốn rước vào cung để thờ. Bá quan không ai dám ngăn cản, Hàn Dũ dâng sớ can rằng :
“ Phật là nước di dịch. Từ Tam Hoàng Ngũ Đế đến vua Võ vua Thang, vua Văn Vương Võ Vương, chưa có Đạo Phật thì thiên hạ thái bình. Đến đời Hớn Minh Đế, Đạo Phật vào Trung quốc thì nhà nước chẳng lâu dài. Sau qua đời Lương Võ Đế thờ Phật hết lòng, ở ngôi 18 năm mà trước sau phải 3 lần xả thân làm sãi, vô ở trong chùa, mà rồi cũng bị Hầu Cảnh vây Võ Đế chết đói tại Đài Thành, sao Phật không cứu ? Như vậy thì chẳng nên tin. Xin Bệ hạ đãi chúng nó, rồi truyền quăng cốt Phật xuống sông, kẻo thiên hạ mê theo mà lầm. Lẽ nào đem cốt Phật vào cung mà bá quan không gián, xin Bệ hạ y tấu. Nếu Phật có linh hiển thì làm họa cho tôi.”
Đường Hiến Tông xem sớ xong thì nổi giận, truyền giáng chức Hàn Dũ và đày ra Triều Châu tức thì.
Hàn Dũ bị đưa đi đày, đến chốn nào không biết, chẳng những không thấy nhà cửa của ai, mà mây giăng đỉnh núi mịt mù, tuyết rơi xuống cả vừng, ngựa đi không đặng. Xảy thấy có một Đạo sĩ cầm chổi quét tuyết dọn đường, coi lại là Hàn Tương Tử. Hàn Tương Tử đến chào chú và nói :
– Chú còn nhớ 2 câu thi trong hoa mẫu đơn không ?
Hàn Dũ hỏi : – Chốn nầy là xứ chi ?
– Đây là ải Lam quan, núi nầy tên là Tần Lãnh.
Hàn Dũ thở dài than rằng :
– Như vậy là số Trời đã định, trốn sao cho khỏi ! Để ta đặt thêm 6 câu cho trọn bài thi. Nói rồi ngâm rằng :
Nhứt phong triêu tấu Cửu Trùng Thiên,
Tịch biến Triều Dương lộ bác thiên.
Bổn vị thanh minh trừ tệ chánh,
Cảm thương suy hủ tích tàn niên.
Vân hoành Tần lãnh gia hà tại,
Tuyết ủng Lam quan mã bất tiền.
Trí nhữ viễn lai ưng hữu ý,
Hảo thâu ngô cốt táng giang san.
Bản dịch của Trần trọng San :
Sáng vừa dâng biểu chốn đan trì,
Chiều biếm Triều Dương vạn dặm đi.
Trào Thánh mong phò trừ mối hại,
Năm tàn há dám tiếc thân suy.
Mây giăng Tần lĩnh, nhà đâu tá ?
Tuyết phủ Lam quan, ngựa chẳng đi.
Cháu đến nơi đây là có ý,
Hãy thâu xương chú bến sông về.
Hàn Dũ ngâm thơ rồi cùng đi với Hàn Tương Tử đến trạm Lam quan mà nghỉ.
Hàn Dũ từ đó mới bắt đầu trọng Đạo và tin lời cháu nói chẳng sai. Trong đêm ấy, chú cháu bàn luận về đạo đức. Rạng ngày, Hàn Tương Tử đưa chú một hoàn thuốc và nói :
– Chú uống hoàn thuốc nầy thì khỏi sanh các bịnh. Không bao lâu chú cũng đặng phục chức trở về trào.
– Ngày sau chú cháu mình còn gặp nhau không ?
– Chú ở Triều Dương có sấu làm loạn, chú đặt văn tế đưa nó phải đi, kế đặng phục chức. Sau cháu sẽ về độ chú và truyền cho chú phép tu luyện thành Tiên.
Quả nhiên, việc xảy ra y như lời Hàn Tương Tử đã nói. Hàn Dũ đặt văn tế đưa cá sấu đi, được vua vời về triều phục chức cũ, kế được bổ làm Thứ Sử Viên Châu.
Hàn Dũ làm quan, tới đâu cũng được dân chúng kính mến. Ở Dương Sơn, nhiều nhà lấy họ Hàn đặt cho con. Ở Viên Châu, ông bãi bỏ tục lệ : Hễ đợ con mà quá hạn không chuộc thì con trở thành nô lệ suốt đời, nên ông được dân chúng thờ phụng. Hàn Dũ làm quan lên đến chức Binh Bộ Thị Lang và mất năm 824.
Đến đời nhà Tống, Hàn Dũ được truy tặng là Xương Lê Bá (Xương Lê là tổ quán của Hàn Dũ), nên người đời sau gọi Hàn Dũ là Hàn Xương Lê. Hàn Dũ là người có công đầu trong phong trào phục cổ đời Đường. Ông có lưu lại bộ “HÀN XƯƠNG LÊ TẬP”. Ông phục cổ mà không nô lệ cổ nhân, chủ trương “Văn dĩ tải Đạo”, muốn phục hưng thuyết Khổng Mạnh đã suy từ thời Lục Triều.
Hàn Dũ được đời sau khen là “Tản Văn Thánh Thủ”.