91 Điển Tích Hành Lang Báo Ân Từ

42. Hoàng tử Việc-Văn-Tôncùng thê tử kỵ lạc đà qua sa mạc.


Việc-Văn-Tôn, là chữ phiên âm từ tiếng Phạn : Tu-Đại-Na hay Tu-Đại-Noa. Đây là câu chuyện về tiền thân của Đức Phật Thích Ca là Hoàng tử Việc-Văn-Tôn cùng với vợ và con, cỡi lạc đà băng qua sa mạc. Hoàng tử thực hành hạnh Bố thí Bất nghịch ý, tức là Bố thí Ba-La-Mật.

Bố thí Ba-La-Mật hay Bố thí Bất nghịch ý là bố thí một cách vô tư, bình đẳng, không thấy mình thi ân và người kia là thọ ân, không phân biệt kẻ thân người sơ, kẻ oán người thù, và nhứt là không tiếc nuối bất cứ vật gì, dù là thân mạng.

Thuở quá khứ, tại nước Diệp-Ba có vị Quốc Vương hiệu là Thấp-Tây, tên Tát-Xà, nguyên là vị vua minh chánh, hiền lành. Cho nên, từ khi Ngài lên ngôi trị vì, các quan trong triều và dân chúng đều gội nhuân ơn huệ.

Vua Tát-Xà có một Hoàng tử tên là Việc-Văn-Tôn, thật đẹp trai, tánh từ hòa hiếu thảo, nên được vua cha và Hoàng hậu cưng yêu vô cùng.

Từ khi Hoàng tử lớn khôn thì Ngài nghĩ rằng: “Thế thường người ta lầm tưởng cái thân tứ đại giả hiệp nầy là bền chắc, việc giàu sang là có thể giữ được lâu dài, nên suốt năm chỉ quanh quẩn với gia đình, tính những việc lợi lộc cho mình, dầu có hại ai cũng chẳng kể. Chớ như người thức đạt, suy ngẫm cho kỹ thì thấy rõ cuộc đời là giả tạm, danh lợi là phù du. Ta nghĩ kiếp trước chắc ta đã trồng nhiều thiện duyên nên nay mới được sanh làm Hoàng tử. Vậy ta cũng nên dùng cái cơ hội nầy mà thực hành Bố thí giúp ích quần sanh thì ngày sau ta có thể hưởng phước dư vô tận.”

Hoàng tử nghĩ tới đó thì từ tâm càng thêm phát lộ, rồi Ngài phát nguyện bố thí bất nghịch ý mà tế độ nhơn sanh. Hễ ai muốn có áo mặc, cơm ăn, nhà ở, ngựa xe, bạc vàng, ruộng đất thì Ngài đều cho tất cả.

Vì vậy mà trong dân chúng, ai ai cũng kính phục cái gương bố thí rất hiếm có của Ngài.

Thuở ấy, vua Tát-Xà có một con Bạch tượng có sức mạnh hơn cả 60 voi thường. Khi nào biên cương có giặc gây rối loạn thì cỡi Bạch tượng nầy đi dẹp giặc thì thành công. Vua Phiên (ở nước láng giềng) rất muốn bắt con Bạch tượng nầy, nghĩ ra một kế, đòi 8 vị Phạm Chí vào nghị rằng : Hoàng tử Việc-Văn-Tôn là bậc nhơn từ, đang lập hạnh bố thí Ba-La-Mật. Trẫm cậy các khanh qua nước Diệp-Ba, yêu cầu Hoàng tử cho con Bạch tượng, đem về đây Trẫm sẽ trọng thưởng.

Tám người Phạm Chí lãnh mạng đi đến nước Diệp-Ba.

Tám người Phạm Chí nói với người giữ cửa rằng :

– Chúng tôi nghe Hoàng Tử của Thượng quốc là người nhơn từ giàu lòng bố thí, nên chúng tôi đến đây xin ra mắt Ngài mong Ngài tế độ, cầu xin quí quan vào tâu giùm.

Quan giữ cửa vào tâu với Hoàng tử, Hoàng tử liền bước ra chào 8 Ông Phạm Chí nói rằng :

– Các Ông ở đâu tới đây, trong ý muốn việc gì ?

– Bẩm Hoàng tử, chúng tôi nghe danh Ngài vang dội xa gần, đức Ngài sánh dường Trời Đất, chí nguyện của Ngài lớn tựa Thái sơn, nên chúng tôi mang thân già đến đây, xin Ngài ban ơn cho chúng tôi xin con Bạch tượng để cỡi cho khỏe, đi xa cho tiện. Ngài có vui vẻ bố thí không ?

Hoàng tử liền đáp :

– Được, mà tôi còn hộ thêm vàng bạc cho 8 Ông nữa.

Hoàng tử vào lấy vàng bạc và bắt Bạch tượng dẫn ra cho 8 Ông. Họ mừng rỡ leo lên ngồi trên Bạch tượng, lãnh vàng bạc rồi từ giã đi.

Lúc ấy trong hàng bá quan của triều đình, ai nấy thấy việc như vậy thì tức tối, nên nói với nhau : Lâu nay nhờ sức hùng dũng của Bạch tương mà nước nhà được yên ổn, dân chúng thái bình. Nay Hoàng tử đem Bạch tượng tặng cho nước Phiên địch thì nước ta lấy chi mà nhờ cậy.

Nói rồi bá quan đem chuyện ấy tâu lên vua Tát-Xà. Nhà vua buồn bực, suy nghĩ một hồi rồi phán rằng :

– Hoàng tử lấy sự bố thí giúp người là phải. Nếu Trẫm ra lịnh cấm hoặc bắt phạt thì có mang tiếng chăng?

– Muôn tâu Bệ hạ, việc Hoàng tử đem voi báu cho nước nghịch là điềm mất nước, bởi vì lúc dựng nên bờ cõi nầy, Bệ hạ nhờ sức của voi báu ấy. Chúng thần nghĩ rằng nếu để Hoàng tử tiếp tục bố thí bất nghịch ý thì chẳng bao lâu kho tàng hết sạch, thì làm sao triều đình lo các việc cho đất nước.

Vua và quần thần luận tội Hoàng tử, bắt Hoàng tử đày ra vùng núi Đàn Đặc 10 năm để Hoàng tử ăn năn hối ngộ.

Hoàng tử nói với vợ là Công chúa Mạn Trà rằng :

– Tôi vì bố thí bất nghịch ý, đem Bạch tượng cho người nước nghịch nên triều đình bắt tội, đày ra núi Đàn Đặc 10 năm. Nơi ấy xa xôi cách trở, rừng núi hoang vu, khuyên nàng rán ở Hoàng cung chờ tôi 10 năm, lo bảo trọng lấy thân và tu sửa tâm tánh theo đường đạo đức thì mai sau sẽ được tự tại trên 9 phẩm sen vàng, nhờ Phật hộ trì, 10 năm sau sum họp.

Công chúa Mạn Trà nghe xong thì khóc, nói :

– Thiếp quyết một lòng theo chàng, lo bề tu tập, mong được thành đạo để phổ độ quần sanh thì mới toại nguyện.

– Vả chăng, nàng là Công chúa, từ nhỏ chỉ quanh quẩn trong cung, ăn ngon mặc đẹp, sang trọng thảnh thơi tột bực. Còn phận tôi, bụng làm dạ chịu, đâu dám than van, chớ cảnh sống nơi núi rừng rất cực khổ và nguy hiểm, nàng chịu sao nổi.

– Đối với thiếp, sự ăn ngon mặc đẹp và vàng bạc châu báu nầy đối với cảnh ly biệt làm thiếp thêm buồn rầu. Huống chi từ lúc thiếp làm vợ chàng, thấy cách bố thí của chàng rất vừa ý thiếp. Ai ngờ ngày nay phải bước vào lối chông gai, thiếp ở Hoàng cung riêng vui với cái giả cuộc vinh hoa nầy thì sao cho phải. Xin chàng cho thiếp theo cùng.

– Nàng đã biết cái chí nguyện của tôi là bố thí bất nghịch ý. Nếu nàng theo tôi, đem 2 con theo, phỏng có ai đến xin 2 đứa con hoặc xin nàng, mà tôi không bố thí thì nghịch với ý của tôi, mà tôi cho thì nàng nghĩ sao ? Chi bằng nàng ở lại Hoàng cung cho khỏi trở ngại cái chí nguyện của tôi.

– Thiếp thề quyết rằng, dầu ngày sau nếu có ai xin 2 con hay xin thiếp mà chàng đành bố thí thì thiếp cũng bằng lòng, cho vừa ý chàng, chớ không dám cải.

Hoàng tử nghe Công chúa thề nguyền như thế thì khen rằng : Lành thay ! Lành thay !

Hoàng tử và Công chúa sửa soạn hành lý rồi vào lạy vua cha và Hoàng hậu, nói lời từ biệt. Hoàng Hậu nghe Hoàng tử nói thì bủn rủn tinh thần, ngã xuống chết giấc. Cung nữ phải đỡ vào phòng cứu tỉnh.

Hoàng tử rời Hoàng cung, chàng cỡi lạc đà, công chúa và 2 con ngồi xe có ngựa kéo, dân chúng đưa tiễn rất đông.

Đi được quãng đường khá xa, Hoàng tử cho dừng lại dưới một tàn cây đại thọ bên đường, đỡ vợ và bồng 2 con xuống nghỉ. Đột nhiên có một Đạo sĩ đến xin bố thí. Hoàng tử lấy đồ trang sức của vợ đem cho. Sau đó tiếp tục lên đường.

Xảy có một Đạo sĩ khác đến xin bố thí ngựa và xe. Hoàng tử cũng vui lòng cho. Hoàng tử đỡ vợ và con xuống, trao xe và ngựa cho Đạo sĩ. Chàng đỡ vợ con lên ngồi trên lưng lạc đà với chàng, tiếp tục lên đường, đi vào sa mạc.

Vừa qua khỏi sa mạc, thì gặp một Đạo sĩ khác nữa đi ngược lại, nên đến xin Hoàng tử bố thí con lạc đà để cỡi qua sa mạc. Hoàng tử vui vẻ bố thí con lạc đà. Chàng an ủi vợ và 2 con bước xuống, rồi dẫn lạc đà trao cho Đạo sĩ.

Thế là trên bước đường đi đày vào núi, Hoàng tử đã bố thí hết tài sản, vật dụng, xe ngựa và cả lạc đà. Bây giờ chỉ còn mình không mà vẫn không tỏ ra lo lắng chi cả.

Hoàng tử cõng đứa con trai lớn, Công chúa ẵm đứa con gái nhỏ, cùng nhau lội bộ lên đường, dan nắng dầm mưa, băng rừng vượt suối, đói ăn trái cây rừng, khát uống nước suối, ngày đi đêm nghỉ. Đi như vậy suốt 21 ngày thì tới núi Đàn Đặc, chân núi có một cụm rừng xanh, bốn bề thanh vắng.

Hoàng tử lựa một khoảng đất bằng, cất lên cái nhà nhỏ, lợp bằng lá cây rừng, đủ cho vợ chồng và 2 đứa con ở tu hành.

Trong lúc đó, có một Đạo sĩ từ phương xa đến hỏi thăm Hoàng tử. Kẻ thị vệ đáp :

– Hoàng tử bố thí hết cả vàng bạc trong kho, lại cho cả voi báu, nên bị vua cha bắt tội, đày đến núi Đàn Đặc rồi.

Đạo sĩ từ giã rồi hỏi đường đi, lần lần cũng tới Đàn Đặc, tìm gặp Hoàng tử đang ngồi trong chòi lá. Khi ấy 2 đứa con của Hoàng tử lớn được 7 và 8 tuổi đang chơi trước nhà, chợt thấy Đạo sĩ đi tới, chúng cả sợ bàn nhỏ với nhau : “Cha mình ưa bố thí, hết tiền bạc rồi, coi chừng cha cho 2 anh em mình vào tay lão già nầy. Vậy 2 anh em mình chạy trốn nơi hầm, chờ mẹ về cứu.” Nói rồi chúng chạy trốn mất dạng.

Lão Đạo sĩ đến, Hoàng tử ra rước mời ngồi. Đạo sĩ nói :

– Tôi nghe Ngài có lòng bố thí cho kẻ đói nghèo, nên tôi chẳng quản đường xa đến đây, mong nhờ chút ơn huệ của Hoàng tử để dưỡng già.

Hoàng tử nghe nói thì lấy làm thảm thương, nói :

– Thật rủi cho Ông, vì bây giờ tôi đã bố thí hết tiền bạc rồi, không còn biết làm sao cho Ông vui lòng.

– Thưa Hoàng tử, tôi nay già lụm cụm không ai giúp đỡ, xin Ngài cho tôi 2 đứa con của Ngài ở với tôi, chừng tôi mãn phần, chúng trở lại với Ngài, chẳng hay có đặng chăng ?

– Nếu Ông muốn vậy thì tôi xin vâng.

Hoàng tử liền kêu 2 đứa con, kêu năm bảy lần mà không thấy chúng trả lời, liền chạy đi tìm, thấy chúng trốn trong hầm, nín khe, ôm nhau chặt cứng. Hoàng tử kêu thì chúng trèo lên, ôm cha khóc ré nói :

– Cha ôi ! Tội nghiệp chúng con, xin cha đừng đem 2 con cho ông già ấy, ổng sẽ ăn thịt chúng con, rồi đây mẹ về không thấy 2 con thì mẹ phát điên khùng mà chết.

Hoàng tử dùng lời ngon ngọt dỗ dành 2 con, rồi đem giao cho Đạo sĩ. Đạo sĩ lại nói :

– Tôi già yếu rồi, sợ đi dọc đường 2 đứa nó chạy mất thì tôi biết làm sao ?

Hoàng tử nghe nói thì lấy dây đưa cho Đạo sĩ buộc cườm tay 2 đứa nhỏ lại, 2 đứa chạy quanh cha la khóc om sòm, kêu mẹ mau về cứu chúng, lại kêu cha nỡ nào để con xa cha cho đành. Vợ của Hoàng tử là Công chúa Mạn Trà đang hái trái cây trong rừng, bỗng nghe sấm nổ vang dội trong lòng, vội chạy về nhà thì chỉ thấy có một mình Hoàng tử, hỏi :

– Còn 2 đứa con đâu vắng không thấy ?

Nàng thấy Hoàng tử ngồi làm thinh. Nàng đi kiếm con khắp chỗ không có, nên trở lại hỏi Hoàng tử :

– Chàng ở nhà chỉ có việc giữ con mà không xong, để chúng chạy chơi đâu mất. Thường bữa, khi thiếp hái trái cây về thì chúng chạy ra đón mừng. Nay chúng chạy lạc mất, coi chừng bị cọp bắt thì thiếp chắc chết theo chúng, chớ sống làm chi mà đau khổ thế nầy !

Hoàng tử thấy vợ quá bi thiết,Ngài rất thảm não, nói:

– Hồi nãy có ông Đạo sĩ đến than phiền thân phận già mà không có con cháu nhờ cậy, nên đến xin 2 đứa con của mình, tôi đem 2 đứa con cho ổng rồi.

Công chúa nghe xong thì nhào xuống đất khóc oà :

– Trời Đất ôi ! Con của thiếp mang nặng đẻ đau, nuôi dưỡng từ nhỏ đến lớn, thương yêu biết bao, mà chàng nỡ nào đem cho người ta. Bây giờ biết ông Đạo sĩ đi hướng nào mà theo bắt 2 đứa con lại.

Hoàng tử thấy vợ khóc lóc bi thảm quá, bèn an ủi và nhắc lại lời hứa của vợ trước khi ra đi đến chốn nầy.

– Nàng đã biết cái chí hướng của tôi, mong tìm Đại Đạo, nên quyết theo một việc tế độ quần sanh mà thôi.. Bởi thế khi đôi ta ở trong Hoàng cung thì tôi đã cản trở nàng không cho đi theo tôi, mà nàng nhứt quyết theo, và có hứa rằng, dầu tôi có đem nàng và 2 đứa con bố thí cho ai đi nữa thì nàng cũng bằng lòng cho vừa cái chí nguyện của tôi. Vậy nàng quên lời hứa ấy hay sao ?

Công chúa nghe Hoàng tử nhắc lại lời hứa của nàng thì nín khóc, nhưng lòng vẫn rất đau khổ vì thương nhớ 2 con.

Các bố thí bất nghịch ý của Hoàng tử Việc-Văn-Tôn làm cảm động đến Trời Phật. Có một vị Thiên đế muốn thử lòng Ngài nên biến ra một ông lão đến gặp Hoàng tử để hỏi xin Công chúa Mạn Trà. Khi ông lão đến, Hoàng tử rước vào nhà tử tế, rồi hỏi ông lão đến có việc chi ? Ông lão đáp :

– Vốn tôi già yếu, lưng mỏi gối dùn, không làm việc gì được để nuôi thân, khi mạnh giỏi không có ai lo giùm chén cơm tách nước, lúc đau ốm không ai lo dùm thuốc men. Nay tôi tới đây, xin Ngài có dư người giúp việc thì cho tôi một người đặng nhờ cậy cho qua ngày tháng.

Hoàng tử đáp :

– Trong cái nhà của tôi đây, bây giờ chỉ còn có 2 vợ chồng tôi mà thôi, chớ không còn ai nữa.

– Phải chi Ngài rộng lòng cho phu nhân của Ngài về giúp đỡ tôi thì tôi rất cám ơn.

– Nếu ông lão muốn vậy thì tôi bằng lòng cho vợ tôi đến nuôi dưỡng ông lão.

Hoàng tử nói xong liền kêu Công chúa Mạn Trà tỏ hết tự sự, rồi bảo nàng vào lấy quần áo đi theo ông lão.

Khi ấy, ông già liền đứng dậy nói :

– Hay thay ! Mấy ai được như thế ! Nào là vàng bạc chẳng tiếc, ngôi báu cũng chẳng màng, cho đến vợ con là núm ruột mà cũng đành lìa đặng làm việc bố thí. Nay ta tỏ thiệt cho Hoàng tử biết, ta là Thiên Đế hóa hiện ra để thử lòng Hoàng tử và Công chúa cho biết đó thôi. Vậy bổn nguyện của Hoàng tử và Công chúa thế nào ?

Nói xong, ông lão hiện trở lại thành vị Thiên Đế oai nghi, dung nhan tuyệt mỹ, hào quang sáng ngời.

Công chúa đảnh lễ Thiên Đế và cầu xin 3 điều : Trước hết xin Ngài làm sao cho Đạo sĩ dẫn 2 đứa con tôi đem bán tại bổn xứ, kế đó xin cho 2 đứa con đừng đói khát, sau cùng xin cho chúng tôi được trở về triều mau chóng.

Thiên Đế phán : – Bà sẽ được toại nguyện.

Hoàng tử đảnh lễ Thiên Đế, nói :

– Kính Ngài, tôi nguyện sao cho cả thảy chúng sanh đều được giải thoát hết khổ về sự sanh, lão, bệnh, tử.

Thiên Đế nói :

– Lời nguyện của Hoàng tử thật là vĩ đại và cao thượng. Nếu Hoàng tử muốn sanh lên cõi Trời hoặc muốn được trường thọ thì ta có thể làm được cho Hoàng tử, còn cái oai linh tối yếu trọng trong 3 giới thì ngoài khả năng của ta.

– Nếu vậy thì xin tạm cho tôi giàu có muôn xe đặng tôi bố thí cho thỏa nguyện của tôi. Tôi mong sao cho Hoàng phụ và các quan đại thần sớm sum họp cùng tôi.

– Bổn nguyện của Hoàng tử sẽ được thành tựu.

Nói xong, Đấng Thiên Đế biến mất.

Nhắc lại, ông Đạo sĩ dẫn 2 đứa nhỏ con của Hoàng tử về đến nhà, bà vợ ra đón, nói :

– Ông thật lớn mật to gan, dám đem con cháu vua chúa về đây, lại nhẫn tâm bắt trói và đánh đập chúng nó. Hãy dắt đi bán chúng nó và kiếm đứa khác đem về đây cho tôi.

Chồng nghe lời, dẫn 2 đứa nhỏ đi bán. Vị Thiên Đế thể theo lời nguyền của Công chúa Mạn Trà, khiến lão Đạo sĩ đem 2 đứa nhỏ qua bán ở nước Diệp Ba. Quan và dân đều biết 2 đứa trẻ ấy là con của Hoàng tử, cháu nội của vua, nên động lòng thương xót, cấp báo cho vua hay. Nhà vua đòi vào :

– Làm sao ngươi có 2 đứa trẻ nầy ?

– Tôi xin của Hoàng tử và nay đem bán.

– Ngươi định giá bao nhiêu ?

Lão Đạo sĩ chưa kịp trả lời thì đứa con trai nói :

– Con trai định giá 1 ngàn đồng và 100 trâu đực; con gái thì định giá 2000 đồng và 200 trâu cái.

Nhà vua lấy làm lạ hỏi đứa bé trai :

– Sao con trai lại rẻ hơn con gái ?

– Tâu Thánh Thượng, Hoàng tử là bực Thánh có lòng nhơn từ, thiên hạ đều thương mến. Đáng lẽ Hoàng tử phải được ở giữa quần chúng, có đâu bị đày vào núi thẳm rừng sâu ở cùng cọp gấu, đói ăn trái cây, khát uống nước suối, mưa nắng dãi dầu. Của quí mà bỏ nên định giá con trai rẻ hơn gái.

– Trẻ con mà luận thuyết không kém bậc cao sĩ.

Lão Đạo sĩ cũng nói :

– Muôn tâu Bệ hạ, hai đứa bé nầy quả thực là con của Hoàng tử, cháu nội của Bệ hạ, tôi xin giao trả lại.

Vua truyền cho quan cận thần lấy vàng bạc trao cho Đạo sĩ, rồi sai sứ giả lên núi Đàn Đặc rước Hoàng tử và Công chúa trở về Hoàng cung. Nhà vua giao hết kho tàng cho Hoàng tử tiếp tục bố thí cho dân chúng. Sự bố thí của Ngài viên mãn, nên Ngài chứng quả Niết Bàn.

Nguyên Hoàng tử Việc-Văn-Tôn (Tu-Đại-Noa) là tiền thân của Đức Phật Thích Ca, vua Tát-Xà là tiền thân của A-Nan, công chúa Mạn Trà là tiền thân của bà Câu-Di, còn lão Đạo sĩ bắt 2 đứa con của Hoàng tử đem bán là tiền thân của Đề-Bà-Đạt-Đa.



Viết bình luận...