91 Điển Tích Hành Lang Báo Ân Từ

Nhị Thập Tứ Hiếu


Mục Lục

MỞ ĐẦU

Nhị thập tứ Hiếu là 24 gương Hiếu thảo.

Đây là 24 gương Hiếu thảo của người xưa bên Tàu. Nhà văn Quách Cự Nghiệp (1277-1367) đời nhà Nguyên sưu tầm và biên soạn, truyền qua nước ta.

Ở Việt Nam, Ông Lý văn Phức (1785-1849), đậu Cử Nhân, làm quan dưới 3 triều vua nhà Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, là một nhà Nho chủ trương đạo đức, liền dịch truyện Nhị thập tứ Hiếu của Quách Cự Nghiệp ra thơ song thất lục bát, để truyền bá và răn dạy người đời.

Nho giáo dạy về Nhơn đạo nên lấy chữ HIẾU làm căn bản đạo đức con người (Kinh Nho giáo: Khai nhơn tâm tất bổn ư đốc thân chi Hiếu). Người không hiếu với cha mẹ thì nhứt định không đạo đức, không dùng được.

Đạo Cao Đài vốn chủ trương Nho Tông Chuyển Thế nên luôn luôn đề cao Trung HiếuNhơn Nghĩa. Đức Hiếu làm đầu trong mọi đức tánh khác. Trước hết là phải hiếu với cha mẹ nơi cõi phàm trần, sau đó còn phải hiếu với 2 Đấng CHA MẸ thiêng liêng là Đức Chí TônĐức Phật Mẫu, bởi vì xác thân phàm do cha mẹ phàm sanh ra và nuôi dưỡng, còn linh hồn và chơn thần do Đức Chí Tôn và Phật Mẫu tạo ra.

Nơi mặt tiền của Báo Ân Từ trong Nội Ô Toà Thánh Tây Ninh, Hội Thánh cho đắp 24 bức tranh nổi ghi lại sự tích Nhị thập tứ Hiếu, để nhắc nhở các tín đồ Cao Đài không được thất hiếu với cha mẹ.

Thứ tự 24 bức tranh nầy có phần khác với thứ tự trong sách Nhị thập tứ Hiếu của Lý văn Phức. Chúng tôi chép lại sự tích theo thứ tự của 24 bức tranh nầy, kèm theo lời thơ của Ông Lý văn Phức:

Mở đầu
Người tai mắt đứng trong Trời
Ai là không cha mẹ sinh thành ?
Gương treo Đất nghĩa Trời kinh,
Ở sao cho xứng chút tình làm con
Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết,
Thì suy ra trăm nết đều nên.
Chẳng xem thuở trước Thánh Hiền,
Hiếu hai mươi bốn thơm nghìn muôn thu.
Lý văn Phức
Chú thích : Trời kinh : Cha. Đất nghĩa : Mẹ.

1. Ngu Thuấn

Ông Thuấn họ Ngu, cha là Cổ Tẩu, mẹ là Ốc Đăng rất hiền đức mà mất sớm. Cổ Tẩu có tánh ương gàn, mê muội, độc ác, cưới vợ kế, sanh được một con trai đặt tên là Tượng. Cảnh mẹ ghẻ con chồng thật là khắc nghiệt. Em Tượng lớn lên lại rất điêu ngoa và hỗn xược. Cổ Tẩu thường nghe lời vợ kế mà đày đọa Thuấn.

Có lần bà mẹ ghẻ xui khiến Cổ Tẩu sai Thuấn đi cày ở đất Lịch Sơn, là nơi có nhiều cọp dữ, mục đích để trừ khử Thuấn. Thuấn nghe lời cha mẹ không chút than van, đến đó cày đất. Lòng hiếu thảo của Thuấn cảm động đến Trời cao, khiến cọp dữ không dám đến gần, voi ra cày đất, chim bay đến nhặt cỏ.

Thấy không hại được Thuấn bằng cách đó, bà mẹ ghẻ lại xúi Cổ Tẩu sai Thuấn đi đánh cá ở đầm Lôi Trạch, là nơi thường có sóng to gió lớn nhận chìm tàu thuyền, không ai dám bén mảng tới gần đó. Thuấn vẫn nghe lời cha mẹ, đến đó đánh cá, sóng gió lặng yên như ngầm giúp cho người con hiếu thảo.

Dù bị hãm hại nhiều lần, nhưng Thuấn không hề oán trách cha và mẹ ghẻ, vẫn thương yêu em Tượng, sống hiền hòa hiếu thuận như không có gì xảy ra, thường lo phụng dưỡng cha mẹ và van vái Trời Phật cho cha mẹ được sống lâu và em Tượng được mạnh khỏe luôn.

Với tấm lòng cao cả của Thuấn, bà mẹ ghẻ hồi tâm, ân hận các việc làm độc ác đã qua, trở lại thương yêu Thuấn.

Tiếng hiếu thảo của Ông Thuấn được đồn vang, đến tai vua Nghiêu đang lo tìm người hiền để truyền ngôi vua. Vua Nghiêu đem 2 người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh gả hết cho Thuấn, và sau đó truyền ngôi lại cho Thuấn.

Đức Đại Thánh họ Ngu tên Thuấn,
Buổi tiềm long gặp vận hàn vi.
Tuổi xanh khuất bóng từ vi,
Cha là Cổ Tẩu, người thì ngang ngang.
Mẹ ghẻ lại tánh càng gay gắt,
Em Tượng nên rất mặt điêu ngoa.
Một mình thuận cả vừa ba,
Trên chìu cha mẹ dưới hòa cùng em.
Trăm cay đắng một niềm ngon ngọt,
Dầu tử sanh không chút biến dời.
Xót tình khóc sớm kêu mơi,
Xui lòng ghen ghét hóa vui dần dần.
Trời cao thẳm mấy từng cũng đến,
Vật vô tri còn mến lựa người.
Mấy phen non Lịch pha phôi,
Cỏ chim vì lượm, ruộng voi vì cày.
Tiếng hiếu hữu xa bay bệ Thánh,
Mạng trưng dung trao chánh nhường ngôi.
Cầm thi xiêm áo thảnh thơi,
Một nhà đầm ấm trăm đời ngợi khen.

2. Hán Văn Đế

Vua Hán Văn Đế tên là Hằng, con của Bạc Hậu, vợ thứ của vua Hán Cao Tổ Lưu Bang, em cùng cha khác mẹ với Thái Tử Dinh (sau nầy lên nối ngôi là vua Huệ Đế), con của Lữ Hoàng Hậu. Lữ Hậu không muốn Hằng và Bạc Hậu ở tại triều đình, vì sợ tranh giành ngôi Thái tử của con Bà. Vua Hán Cao Tổ biết vậy nên đưa Hằng ra làm Thân Vương ở đất Đại. Hán Cao Tổ mất, Thái Tử Dinh lên nối ngôi xưng là Huệ Đế. Huệ Đế mất sớm, Lữ Thái Hậu lập Thiếu Đế lên ngôi và Bà nhiếp chánh chuyên quyền. Thừa dịp Lữ Hậu bệnh nặng, các Đại thần đem binh bắt toàn gia Lữ Hậu giết hết, rước Hằng về nối ngôi, hiệu là Văn Đế.

Vua Hán Văn Đế nổi tiếng là người hiếu thảo, tánh rất hiền hòa, được triều thần và dân chúng mến phục. Vua Văn Đế lấy đức trị dân, bãi bỏ nhục hình, các lễ cống hiến, miễn thuế ruộng đất.

Bạc Hậu thường đau yếu luôn. Văn Đế luôn luôn hầu mẹ ngoài các buổi chầu nơi triều đình, thức đêm canh bịnh cho mẹ. Khi ngự y dâng thuốc, Văn Đế nếm trước rồi mới dâng cho mẹ uống.

Từ quan chí dân, ai cũng biết vua Văn Đế là bậc chí hiếu, đều bắt chước theo. Cả nước được thái bình thịnh trị.

Kìa Văn Đế vua hiền Hán đại,

Vâng ấn phong ngoài cõi thân vương.
Quên mình chức cả quyền sang,
Phụng thờ Bạc Hậu lễ thường chẳng sai.
Đến khi nối ngôi Trời trị nước,
Vẫn lòng nầy săn sắt như xưa.
Mẹ khi ngại gió kinh mưa,
Ba năm hầu hạ thường như một ngày.
Mắt chong bóng, dám say giấc ngủ,
Áo luôn mình dám sổ đai lưng.
Thuốc thang mắt xét tay nâng,
Nếm tường trong miệng mới dâng dưới màn.
Tiếng nhơn hiếu đồn vang thiên hạ,
Thói thuần lương hóa cả lê nguơn.
Hai mươi năm lẽ càn khôn,
Đã sau Tam Đại hãy còn Thành, Khương.
Ấy hai vị đế vương đời trước,
Chữ Hiếu dành đá tạc vàng in.
Còn ra sĩ thứ đẳng hiền,
Điểm xem mấy kẻ tiếng truyền đến nay ?

3. Châu Thọ Xương

Châu Thọ Xương, người nước Tống, con của người vợ thứ trong gia đình họ Châu. Năm Ông lên 7 tuổi, người vợ cả đuổi mẹ của Ông đi, mẹ Ông sang ở đất Tần. Thọ Xương trưởng thành, được ra làm quan cho nhà Tống, nhưng lòng lúc nào cũng thương nhớ đến người mẹ ruột.

Đến đời vua Tống Thần Tông, Ông xin từ quan để đi tìm mẹ. Khi ra đi, Ông thề rằng, nếu không tìm thấy mẹ thì nhứt định không trở về nhà.

Ông đi khắp nơi, may đến đất Đồng Châu thì gặp mẹ. Xa cách nhau năm chục năm, nay mẫu tử đoàn viên. Ông xin rước mẹ về ở chung nhà đặng dễ bề phụng dưỡng.

Châu Thọ Xương làm quan Tống đại,
Mẹ sanh ra bảy tuổi lìa lòng.
Bởi vì đích mẫu chẳng dung,
Đem thân bồ liễu bạn cùng nước non.
Muôn ngàn dặm mẹ con xa khuất,
Năm mươi năm Trời Đất bơ vơ.
Sanh con những tưởng cậy nhờ,
Cái thân sung sướng bây giờ mà chi !
Từ quan chức quyết đi tìm tõi,
Nặng lời thề nói với gia đình.
Thân nầy chẳng gặp từ thân,
Thì liều sống thác với thân cho đành.
Trời đâu phụ tấm thành hiếu tử,
Chốn Đồng Châu bỡ ngỡ gặp nhau.
Nét mừng ai vẽ nên đâu,
Mẹ đầu nhuộm tuyết, con đầu hoa râm.
Đã bỏ lúc than ngầm khóc ngậm,
Lại vầy nên trên ấm dưới êm.
Cho hay máu chảy ruột mềm,
Chẳng Trời, ai tưởng còn tìm được đây.

4. Vương Tường

Vương Tường, sanh đời nhà Tấn, mồ côi mẹ từ nhỏ, sống với cha và bà kế mẫu khắc nghiệt. Bà mẹ ghẻ thường hay thêu dệt nói xấu Vương Tường làm cho cha cũng lần lần ghét bỏ Vương Tường. Dầu vậy, Vương Tường vẫn rất hiền hòa hiếu hạnh.

Vào tiết đông băng giá, mẹ ghẻ đòi ăn cá tươi. Vương Tường đi ra bờ sông, mặt sông đóng băng, ông nằm trên băng tìm kẻ hở để bắt cá. Bỗng nhiên, băng chỗ đó nứt ra, hai con cá chép theo đó vọt lên. Vương Tường mừng quá, túm bắt đem về làm món cá tươi dâng lên kế mẫu.

Kế mẫu cảm động, nhận ra tấm lòng hiếu thảo của Vương Tường, ân hận những điều sai trái do bà gây ra trước đây, nên trở lại thương yêu Vương Tường.

Ngươi Vương Tường cũng là đời Tấn,
Tủi huyên đường sớm ẩn bóng xa.
Mẹ sau gặp cảnh chua ngoa,
Tiếng gièm thêu dệt với cha đủ điều.
Lòng cha chẳng còn yêu như trước,
Lòng con thường chẳng khác như xưa.
Mẹ thường muốn bữa sanh ngư,
Giá đông trời lạnh bây chừ tìm đâu ?
Trên giá đóng quyết cầu cho thấy,
Cởi áo nằm rét mấy cũng vui.
Bỗng đâu giá lở làm hai,
Lý ngư may đặng một đôi đem về.
Bữa cung cấp một bề kính thuận,
Mẹ cha đều đổi giận làm lành.
Cho hay hiếu cảm tại mình,
Dẫu trăm giận, lúc hả tình cũng thôi.

5. Ngô Mãnh

Ngô Mãnh, sanh vào đời nhà Tấn, mới 8 tuổi đã biết hiếu thảo với cha mẹ. Nhà rất nghèo đến nỗi không tiền mua mùng. Đêm hè nóng nực, muỗi bay nhiều hằng đàn, Ngô Mãnh sợ cha mẹ bị muỗi đốt, mà lại không dám đập muỗi vì sợ cha mẹ nghe động thì thức giấc, nên liền cỡi trần ra, nằm phía ngoài để cho muỗi bay đến đốt mình cho no máu, khỏi bay vào đốt cha mẹ.

Tấn Ngô Mãnh tuổi thì lên tám,
Lòng sự thân chẳng dám khi nhàn.
Cực vì một nỗi bần hàn,
Có giường trong đặt, không màn ngoài che.
Trời đương buổi đêm hè nóng nảy,
Tiếng muỗi kêu vang dậy dường mưa.
Xót thay hai đấng nghiêm từ,
Để người chịu muỗi, bây chừ biết sao ?
Nghĩ da thịt phương nào thay lấy,
Quyết nằm trần, muỗi mấy chẳng xua.
Dằn lòng cho muỗi được no,
Để người êm ái giấc hòe cho an.
Tuổi tuy bé mà gan chẳng bé,
Dạ ái thân đến thế thì thôi.
Cho hay phú tính bởi Trời,
Những đau trong ruột dám nài ngoài da.

6. Hoàng Hương

Hoàng Hương, tự là Văn Cường, người đời Hậu Hán, mới 9 tuổi thì mẹ mất. Hoàng Hương thương nhớ mẹ khóc thảm thiết, thờ cha rất mực cung kính, thức khuya dậy sớm hầu cha, không dám xao lãng.

Vào mùa đông, Hoàng Hương nằm ủ vào chăn chiếu để truyền hơi ấm cho cha khỏi lạnh; đến mùa hè thì quạt mùng gối cho cha được mát mẻ luôn. Nhờ vậy mà người cha sống thoải mái vui tươi, không biết có mùa đông hay mùa hè.

Quan Thái Thú Lưu Hộ ở quận biết Hoàng Hương là người con hiếu nên làm sớ tâu lên vua Hán xin ban thưởng để làm gương tốt cho mọi người.

Đời Hậu Hán Hoàng Hương chín tuổi,
Khuất bóng từ dòi dõi nhớ thương.
Hạt châu không ráo hai hàng,
Tiếng hiền đồn dậy trong làng đều khen.
Thờ nghiêm phụ cần chuyên khuya sớm,
Đạo làm con chẳng dám chút khuây.
Khi trời nắng hạ chầy chầy,
Quạt trong màn gối hơi bay mát dầm.
Trời đông buổi sương đầm tuyết thắm,
Ấp hơi mình cho ấm chiếu chăn.
Nhờ con cha đặng an thân,
Bốn mùa không biết có tuần hạ đông.
Tiếng hiếu kỉnh cảm lòng Quận Thú,
Biển nêu treo chói đỏ vàng son.
Cho hay tuổi trẻ mà khôn,
Ngàn xưa sớm biết đạo con mấy người.

7. Đường thị

Đường thị, vợ nhà họ Thôi, ở với cha mẹ chồng rất hiếu thảo. Mẹ chồng quá già, răng đã rụng hết, không còn nhai cơm được nữa, Đường thị phải hằng ngày tắm rửa sạch sẽ, rồi cho mẹ bú để nuôi mẹ. Nhờ vậy mà mẹ chồng được sống thọ.

Cám ơn nàng dâu đã hết lòng nuôi nấng, bà mẹ chỉ biết khấn nguyện cùng Trời Phật ban bố cho con cháu nhà họ Thôi sau nầy người nào cũng hiếu thảo như Đường thị.

Dâu họ Thôi ai bằng Đường thị,
Thương mẹ chồng niên kỷ đã cao.
Không răng ăn dễ được nào,
Ngày ngày lau chải ra vào thăm coi.
Lấy sữa ngọt thay mùi cơm cháu,
Mấy năm trời chẳng gạo mà no.
Vì dâu dốc dạ thờ cô,
Da mồi tóc bạc bốn mùa như xuân.
Ơn tình ấy không phần báo lại,
Buổi lâm chung vái với Hoàng Thiên,
Xin nguyền cho đặng như nguyền,
Dâu dâu ngày khác đặng hiền như dâu.
Ai nghe cũng răn nhau hiếu kỉnh,
Cửa Thôi gia hưng thịnh đời đời,
Cho hay gia khánh lâu dài,
Báu nào còn báu hơn người dâu ngoan !

8. Khương Thi

Khương Thi, sanh vào đời nhà Hán, có vợ là Bàng thị, hai vợ chồng đều rất hiếu thảo với mẹ.

Mẹ chồng muốn uống nước sông, Bàng thị hằng ngày đi gánh nước sông ở thật xa đem về để dành cho mẹ dùng.

Mẹ muốn ăn gỏi cá tươi, Khương Thi không nệ rét mướt, đi bắt cá đem về làm gỏi dâng lên mẹ.

Thấy mẹ ở nhà một mình, sợ mẹ buồn bực, nên thường đến nhờ quí bà già hàng xóm đến chơi chuyện trò với mẹ cho vui tuổi già.

Về sau, bên cạnh nhà, tự nhiên sanh ra một dòng suối ngọt, nước suối có mùi vị y như nước sông và hằng ngày lại có 2 con cá chép từ suối nhảy ra, Khương Thi bắt được, đủ làm bữa gỏi dâng lên mẹ dùng, và Bàng thị khỏi đi gánh nước sông ở xa nữa.

Người ta cho rằng, lòng hiếu thảo của vợ chồng Khương Thi làm cảm động lòng Trời nên Trời khiến sanh ra suối và cá như thế.

Hán Khương Thi nhà còn lão mẫu,
Vợ họ Bàng vẹn đạo chữ tòng.
Mẹ thường muốn uống nước sông,
Vợ từng đi gánh thay chồng hầu cô.
Mẹ thường muốn ăn đồ gỏi cá,
Vợ chồng đều tầm tá đủ mùi.
Lại mời lân mẫu sang chơi,
Để bồi cùng mẹ cho vui bạn già.
Bên nhà bỗng chảy ra suối ngọt,
Với nước sông in một mùi ngon.
Lý ngư ngày nhảy hai con,
Đủ trong cung cấp thần hôn thường lề.
Rày thong thả bỏ khi lận đận,
Cam thỏa lòng dâu thuận con hiền.
Cho hay gia đạo khi nên,
Đã con hiếu lại được hiền cả dâu.

9. Đinh Lan

Đinh Lan, sanh nhằm đời Hớn, mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ. Lớn lên thành lập gia thất, rồi thuê người tạc tượng cha mẹ bằng gỗ để thờ, để tưởng nhớ ơn cúc dục cù lao của cha mẹ. Đinh Lan hết lòng thờ kính cha mẹ y như lúc còn sống. Mỗi khi đi và về đều thưa trình hẳn hoi. Ngày dâng 2 bữa cơm, tối đến lo sửa soạn mùng mền chiếu gối y như cha mẹ còn sống vậy.

Phụng thờ như vậy được mười mấy năm, sau người vợ sanh ra giải đãi, lại dùng kim châm vào kẻ tay tượng gỗ xem thử có gì lạ không, không ngờ nơi ấy có máu chảy ra đỏ tươi, vợ Đinh Lan hoảng sợ vô cùng. Đến khi Đinh Lan trở về, vào trình cha mẹ thì thấy 2 tượng gỗ đều chảy nước mắt, kẻ tay lại chảy máu. Đinh Lan gọi vợ để hỏi thì vợ thật tình kễ rõ.

Đinh Lan cho là vợ phạm tội đại bất hiếu không thể tha thứ được, nên quyết định thôi vợ.

Hán Đinh Lan thuở năm thơ ấu,
Bóng xuân huyên khuất dấu non xanh.
Đến nay tuổi đã trưởng thành,
Cám công sơn hải, thiệt tình trân cam.
Tưởng dung mạo khắc làm mộc tượng,
Cứ bữa thường phụng dưỡng như sanh.
Khi chăn gối, buổi cơm canh,
Mấy mươi năm vẫn lòng thành trước sau.
Bởi người vợ thờ lâu nên trễ,
Thử lấy kim châm kẻ ngón tay.
Bỗng đâu giọt máu chảy ngay,
Ai hay tượng gỗ lâu ngày thiêng sao ?
Khi đến bữa chồng về làm lễ,
Mắt tượng rơi hàng lệ chứa chan.
Xét xem mới biết nguồn cơn,
Nổi bừng lá giận, dứt tan dây tình.
Há phải nhẫn mà đành phụ nghĩa,
Hiếu với tình nặng nhẹ phải cân.
Cho hay thành hẳn nên Thần,
Há rằng u hiển mà phân vong tồn.

10. Lục Tích

Lục Tích, sanh vào đời Đông Hán, lên được 6 tuổi. Một hôm, Lục Tích theo cha sang Quận Cửu Giang viếng Viên Thuật. Viên Thuật làm tiệc thết đãi, Lục Tích thấy trên bàn tiệc có nhiều quít ngon, bèn lấy 2 trái giấu vào túi áo.

Khi mãn tiệc, đến chào Viên Thuật ra về, Lục Tích vô ý để quít lọt ra ngoài. Viên Thuật thấy vậy nói đùa:

– Sao cháu lấy quít giấu như thế ?

Lục Tích liền quì thưa rằng :

– Mẹ con thích ăn quít lắm ! Nhân thấy trong tiệc có nhiều quít ngon, con giấu 2 trái đem về biếu mẹ.

Viên Thuật khen ngợi Lục Tích còn nhỏ mà có hiếu.

Hán Lục Tích thuở còn sáu tuổi,
Quận Cửu Giang đến với họ Viên.
Trẻ thơ ai chẳng yêu khen,
Quít ngon đặt tiệc tiểu diên đãi cùng.
Cất hai quả vào trong tay áo,
Tiệc tan xong từ cáo lui chân.
Trước thềm khúm núm gởi thưa,
Vô tình quả quít nẩy lăn ra ngoài.
Viên trông thấy cười cười hỏi hỏi,
Sao khách hiền mang thói trẻ thơ ?
Thưa rằng : Mẹ vốn tánh ưa,
Vật ngon dành lại để đưa mẹ thì.
Viên nghe nói trọng vì không xiết,
Bé con con mà biết hiếu thân.
Cho hay phú giữ thiên chơn,
Sanh ra ai cũng sẵn phần thiện đoan.

11. Vương Thôi

Vương Thôi, người nước Ngụy thời Tam Quốc. Cha của Vương Thôi là Vương Nghi làm quan cho nhà Ngụy (Tào Tháo, Tào Phỉ), bị Tư Mã Chiêu (con của Tư Mã Ý) giết chết, diệt luôn nhà Ngụy, diệt luôn nước Ngô (Ngô Tôn Quyền) và nước Thục (do Lưu Bị lập ra), thống nhất sơn hà, mở ra nhà Tấn, gọi là Tây Tấn.

Cha của Vương Thôi bị nhà Tây Tấn sát hại, ông quá thương xót, phủ phục trước mộ khóc mãi. Sách chép rằng : Nước mắt của Vương Thôi nhiều đến nỗi cây trắc trồng bên mộ xanh tươi bỗng trở nên khô héo. Vương Thôi suốt đời không quay mặt về hướng tây để tỏ cái ý chí oán giận nhà Tây Tấn giết chết cha của ông.

Mẹ của Vương Thôi lúc sanh thời rất sợ tiếng sấm. Khi mẹ mất rồi, mỗi khi chuyển mưa có sấm chớp, ông liền chạy ra mộ của mẹ, nằm sấp lên mộ khấn rằng : Có con đây, mẹ chớ kinh sợ.

Nhà Tây Tấn biết Vương Thôi là người hiền nên nhiều lần vời ra làm quan, nhưng Vương Thôi nhất định từ chối. Ông cất nhà ở kế mộ phần của cha mẹ rồi mở trường dạy học.

Khi giảng sách cho học trò, đến chương Lục Nga trong Kinh Thi có câu : Ai ai phụ mẫu sanh ngã cù lao … thì ông nhớ đến cha mẹ, nước mắt dầm dề. Sau học trò của ông bỏ chương Lục Nga không dám đọc nữa.

Ngụy Vương Thôi gặp đời Tây Tấn,
Vì thù cha lánh ẩn cao bay.
Bên mồ khóc đã khô cây,
Trọn đời ngồi chẳng hướng Tây lúc nào.
Khi sấm sét tìm vào mồ mẹ,
Lạy khóc rằng : Có trẻ ở đây,
Bởi vì tánh mẹ xưa nay,
Vốn từng sợ sấm những ngày gió mưa.
Nên coi sóc chẳng từ sớm tối,
Thần phách yên dạ mới được yên.
Trong khi đọc sách giảng truyền,
Tới câu “ Sinh ngã ” lệ tràn như tuôn.
Ngập ngừng kẻ cập môn cũng cảm,
Thiên Lục Nga chẳng dám còn ngâm.
Cho hay thử lý thử tâm,
Sư, sinh, cũng tấm tình thâm khác gì.

12. Mạnh Tông

Mạnh Tông, tự là Cung Võ, sanh vào đời nhà Ngô (Tam Quốc), quê ở Giang Hạ. Cha mất sớm, Mạnh Tông phụng dưỡng mẹ rất có hiếu.

Một hôm mẹ đau nặng, bỗng bà bảo thèm một chén canh măng. Trời mùa đông giá lạnh buốt xương, trái mùa măng mọc, Mạnh Tông tìm mãi trong rừng tre chẳng có mụt măng nào, buồn quá, chẳng biết làm sao, đành ôm gốc tre khóc ngất. Bỗng đâu có mấy mụt măng màu xám từ đất mọc lên, Mạnh Tông mừng rỡ xắn lấy đem về, nấu ngay một nồi canh măng dâng mẹ. Bà mẹ ăn xong canh măng thì khỏi bệnh.

Về sau có một loại tre cho loại măng màu xám giống y như vậy, được gọi là măng Mạnh Tông.

Ngô Mạnh Tông phụ thân sớm khuất,
Thờ mẫu thân lòng thực khăn khăn.
Tuổi già trằn trọc băn khoăn,
Khi đau nhớ bát canh măng những thèm.
Trời đông tuyết biết đâu tìm được,
Chốn trúc lâm phải bước chân đi.
Một thân ngồi dựa gốc tre,
Ôm cây kêu khóc nằn nì với cây.
Giữa bình địa phút giây bỗng nứt,
Mấy giò măng mặt đất nẩy sanh.
Đem về nấu một bữa canh,
Ăn rồi bệnh mẹ lại lành như xưa.
Măng mùa lạnh bây giờ mới thấy,
Để về sau nhớ lấy cỏ cây.
Cho hay hiếu động cao dày,
Tình sâu cũng khiến cỏ cây cũng tình.

13. Quách Cự

Quách Cự, tự là Văn Cứ, sanh vào đời nhà Hán, nhà rất nghèo, mồ côi cha, phụng dưỡng mẹ rất hiếu thảo.

Quách Cự có vợ sanh một đứa con trai được 3 tuổi. Khi đến bữa ăn, Quách Cự thường thấy mẹ mình nhịn bớt phần cơm, sớt qua cho cháu, nên bị thiếu ăn, lần lần sức khỏe sa sút. Quách Cự bàn với vợ : Vợ chồng mình đang thời sanh đẻ được, mẹ già thì chỉ có một lần, đã chẳng phụng dưỡng mẹ đầy đủ mà lại để cho con mình chia phần cơm của mẹ thì không phải.

Bàn nhau như vậy rồi, hai người ra sau nhà, đào một cái hố để chôn con. Khi đào xuống sâu độ một thước thì gặp một cái hủ, trên nắp hủ có viết hàng chữ “Thiên tứ huỳnh kim Quách Cự hiếu tử, quan bất đoạt, dân bất đắc thủ”. Nghĩa là : Trời ban vàng ròng cho con hiếu Quách Cự, quan chẳng phép đoạt, dân chẳng được lấy. Hai vợ chồng vô cùng mừng rỡ. Nhờ có vàng mà đời sống được sung túc, khỏi phải chôn con, lo phụng dưỡng mẹ già cho thỏa lòng hiếu đạo.

Hán Quách Cự cửa nhà sa sút,
Thờ mẫu thân chăm chút mọi bề.
Còn con ba tuổi biết chi,
Bữa ăn từ mẫu thường thì bớt cho.
Trông thấy mẹ bữa no bữa đói,
Với hiền thê than nói khúc nôi.
Mẹ già đã chẳng ai nuôi,
Để con xẻ ngọt chia bùi sao yên.
Vợ chồng ta còn phen sanh đẻ,
Mẹ già rồi hầu dễ đặng hai.
Nói thôi giọt vắn giọt dài,
Đào ba thước đất để vùi tình thâm.
May đâu thấy hoàng kim một hủ,
Chữ Trời cho đề rõ rành rành.
Cho hay Trời khéo ngọc thành,
Hiếu tâm đâu để đoạn tình cha con.

14. Dương Hương

Dương Hương, sanh vào đời nhà Tấn, mới 14 tuổi đã tỏ ra là con chí hiếu. Khi cha đi đâu, Dương Hương cũng theo hầu một bên.

Một hôm, hai cha con cùng đi thăm ruộng ở một nơi rất xa, gần vùng rừng núi, giữa đường gặp một con hổ dữ nhảy đến vồ cha. Dương Hương liều mình dùng đôi tay không đánh với hổ, dù bị nhiều vết thương nhưng Dương Hương cứ xông tới, hổ đành phải lui. Hai cha con được thoát nạn.

Tấn Dương Hương mới mười bốn tuổi,
Cha bước ra hằng ruổi theo cha.
Phải khi thăm lúa đường xa,
Chút thân tuổi tác thoắt sa miệng hùm.
Xót con mắt hầm hầm nổi giận,
Nắm tay không vơ vẩn giữa đàng.
Hai tay chặn dọc đè ngang,
Ra tay chống với hổ lang một mình.
Hùm mạnh phải xếp nanh lánh gót,
Hai cha con lại một đoàn về.
Cho hay hiếu mạnh hơn uy,
Biết cha thôi lại biết chi có mình.

15. Thái Thuận

Thái Thuận, tự là Quân Trọng, người đất Nhữ Nam, đời nhà Hán, mồ côi cha từ nhỏ, thờ mẹ rất hiếu thảo.

Gặp thời loạn lạc, Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, lại nhằm năm mất mùa, dân chúng thật đói khổ. Thái Thuận phải đi lượm những trái dâu đem về ăn dỡ dạ. Rủi bị giặc Xích My bắt, lục soát trong người thấy có 2 túi đựng trái dâu : một túi đựng dâu đen, một túi đựng dâu vàng. Tra vấn thì Thái Thuận khai rằng : Dâu đen thì chín ngọt dành cho mẹ dùng, còn dâu vàng mới chín còn chua thì để riêng tôi dùng.

Giặc Xích My khen Thái Thuận là con hiếu thảo, liền đem lòng thương, cấp cho 3 thúng gạo và một đùi thịt trâu đem về nuôi mẹ.

Ngươi Thái Thuận ở sau đời Hán,
Dạ thờ thân thuở loạn không lay.
Đương cơn khói lửa mù bay,
Liền năm hoang liễm ít ngày đủ no.
Nơi rừng rậm kiếm đồ nuôi mẹ,
Nhặt quả dâu chia để làm hai.
Tặc quân trông thấy nực cười,
Hỏi sao bày đặt đôi nơi cho phiền ?
Rằng quả ấy sắc đen thì ngọt,
Dâng mẹ già gọi chút tình con.
Còn là sắc đỏ chẳng ngon,
Cái thân cay đắng dám còn sợ chua.
Giặc nghe nói khen cho hiếu kỉnh,
Bước lưu ly mà gánh cang thường.
Truyền quân của tiễn sẵn sàng,
Vó trâu một chiếc, gạo lương một bầu.
Mừng trong dạ bước mau nhẹ gót,
Về tới nhà miệng tỏ dâng qua.
Cho hay người cũng người ta,
Biết đâu đạo tặc chẳng là lương tâm.

16. Mẫn Tử Khiên

Mẫn Tử Khiên tên là Tổn (Mẫn Tổn), người nước Lỗ, học trò của Đức Khổng Tử. Mẹ mất sớm, cha cưới vợ kế sanh đặng 2 con. Cảnh mẹ ghẻ con chồng thật là khắc nghiệt, nhưng Mẫn Tử Khiên vẫn giữ một mực hiếu thảo với cha và mẹ kế, hoà nhã với 2 em.

Mùa đông giá rét, 2 con của mẹ ghẻ được mặc áo bông ấm áp, còn Mẫn Tử Khiên thì phải mặc áo lót bông lau không đủ ấm, lại còn phải đẩy xe đưa cha đi dạo chơi. Vì quá lạnh, tay Mẫn Tử Khiên tê cóng, phải rời xe ra. Người cha thấy vậy mới nghĩ lại, biết bà kế mẫu quá hà khắc, liền trở về nhà định đuổi bà đi. Mẫn Tử Khiên khóc lóc xin cha xét lại, đừng đuổi kế mẫu đi, vì nếu kế mẫu còn thì chỉ có mình con chịu rét mà thôi, nếu đuổi kế mẫu thì chẳng những con mà cả 2 em cũng đều phải chịu rét mướt khổ sở nữa.

Người cha nghe theo, về nhà thuật chuyện lại cho kế mẫu của Tử Khiên nghe, khiến bà cảm động. Lòng hiếu thảo của Mẫn Tử Khiên đã cảm hóa được bà, khiến bà sửa mình và trở nên một hiền mẫu.

Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa,
Xót nhà huyên quạnh quẽ đã lâu.
Thờ cha sớm viếng khuya hầu,
Chẳng may gặp phải mẹ sau nồng nàn.
Trời đương tiết đông hàn lạnh lẽo,
Hai em thời áo kép dày bông.
Chẳng thương chút phận long đong,
Hoa lau nỡ để lạnh lùng một thân.
Khi cha dạo theo chân xe đẩy,
Rét căm căm nên xẩy rời tay.
Cha nhìn ngẫm nghĩ mới hay,
Nghiến răng rắp cắt đứt dây xướng tùy.
Gạt nước mắt chơn quì miệng gởi :
“Lạy cha xin xét lại nguồn cơn.
Mẹ còn, chịu một thân con,
Mẹ đi luống để cơ hàn cả ba.”
Cha trông xuống cũng sa giọt tủi,
Mẹ nghe lời cũng đổi lòng xưa.
Cho hay hiếu cảm nên từ,
Thấm lâu như đá cũng rừ lọ ai ?

17. Tử Lộ

Tử Lộ, tự là Trọng Do, người ở ấp Biện nước Lỗ, là học trò giỏi của Đức Khổng Tử. Nhà nghèo, Tử Lộ thường phải đi đội gạo rất xa đem về nuôi cha mẹ mà không nệ hà cực nhọc. Không tiền mua thức ăn, ông đi hái rau lê rau hoắc nấu canh dâng lên cha mẹ dùng đỡ.

Sau khi cha mẹ mất, ông qua nước Sở được vua Sở trọng dụng, ban cho quan tước và bổng lộc cao sang. Trong cảnh phú quí vinh hoa, ông thường nhắc đến cha mẹ và lấy làm tiếc là cha mẹ không còn sống để cùng vui hưởng cảnh giàu sang, nên Tử Lộ than rằng : Nay muốn ăn rau lê rau hoắc, đội gạo như trước chẳng được nữa, vì cha mẹ đã mất.

Khổng Tử khen Tử Lộ là người thận trọng và chí hiếu.

Thầy Tử Lộ cũng người nước Lỗ,
Thờ hai thân từng bữa canh lê.
Thường khi đội gạo đi về,
Xa xôi trăm dặm nặng nề hai vai.
Đỉnh huê biểu từ khơi bóng hạc,
Gót Nam du nhẹ bước tang bồng.
Xe trăm cỗ, thóc muôn chung,
Ngồi chồng đệm ghép ăn chồng vạc cao.
Thân phú quí ngắm vào thêm tủi,
Đức cù lao chạnh tới càng đau.
Nào khi đội gạo canh rau,
Muốn còn như cũ dễ hầu được ru !
Lòng thắc mắc nghìn thu vẫn để,
Biết bao giờ cam chỉ đền công.
Cho hay dạ hiếu không cùng,
Dẫu Tam Công chẳng đổi lòng thần hôn.

18. Lão Lai Tử

Lão Lai Tử, người nước Sở, sanh vào thời Xuân Thu, thờ cha mẹ rất hiếu thảo. Lúc ông được 70 tuổi mà cha mẹ vẫn còn sống rất thọ. Ông sợ cha mẹ buồn khi thấy mình già nên ông thường mặc quần áo sặc sỡ rồi múa hát trước mặt cha mẹ để làm vui cha mẹ; lại có khi bưng nước giả bộ trợt té ngồi khóc oa oa như con nít làm cha mẹ phải bật cười.

Lão Lai Tử đời Châu cao sĩ,
Thờ hai thân chẳng trễ ngọt bùi.
Tuổi già đã đúng bảy mươi,
Nói năng chẳng chút hở môi rằng già.
Khi thong thả mẹ cha ngồi trước,
Nhảy lăn vào bắt chước trẻ thơ.
Thấp cao điệu múa nhởn nhơ,
Xênh xang màu áo bạc phơ mái đầu.
Chốn đường thượng khi hầu bưng nước,
Giả làm điều ngã trước thềm hoa.
Khóc lên mấy tiếng oa oa,
Tưởng chừng lên bảy lên ba thuở nào.
Trên tuổi tác trông vào vui vẻ,
Án đình vi gió thụy mưa xuân.
Cho hay nhân tử sự thân,
Trong trăm năm đặng mấy lần ngày vui.

19. Diễm Tử

Diễm Tử, sanh đời nhà Châu, phụng dưỡng cha mẹ rất hiếu thảo. Khi cha mẹ già, mắt lòa, lại thèm uống sữa hươu từng ngày. Diễm Tử lập kế, lấy da hươu khô may làm quần áo giả làm hươu con, rồi vào rừng lẫn vào đám hươu, đến gần hươu mẹ, vắt sữa hươu mẹ, đem về cho cha mẹ dùng.

Một hôm, bọn thợ săn vào rừng săn thú, thấy Diễm Tử trong lốt hươu tưởng là hươu thiệt, định giương cung bắn chết. Diễm Tử vội la lớn rồi trút bỏ lớp da hươu, giải bày sự việc. Bọn thợ săn mến phục Diễm Tử là người mưu trí và hiếu thảo.

Châu Diễm Tử làm con rất thảo,
Chiều hai thân tuổi lão niên cao.
Mắt trần khuất nguyệt mờ sao,
Sữa hươu, người vẫn ước ao từng ngày.
Vật khó kiếm không hay thường dõi,
Phải lo phương tìm tõi cho ra.
Hươu khô tìm lấy lột da,
Mặc làm sắc áo để hòa lẫn theo.
Chốn non thẳm tìm vào bầy lứa,
Sẽ dần dà lấy sữa nuôi thân.
Bỗng đâu gặp lũ đi săn,
Rắp buông tên bắn không phân vật người.
Đem tâm sự tới nơi bày tỏ,
Chút hiếu tình nghe rõ cũng thôi.
Cho hay chung một tánh Trời,
Tấm son cũng động được người võ phu.

20. Đổng Vĩnh

Đổng Vĩnh, sanh vào thời Hậu Hán, nhà rất nghèo, nhưng ở với cha mẹ rất hiếu thảo. Khi cha mất, trong nhà không có tiền để lo việc tang cho cha, ông đến nhà một người phú hộ để xin vay tiền và cam kết khi xong đám tang cha thì ông sẽ đến dệt đủ 300 tấm lụa lấy công trừ nợ.

Nhờ số tiền vay nầy, Đổng Vĩnh lo việc tang cho cha xong xuôi tốt đẹp. Ông liền thu xếp công việc để qua nhà người phú hộ dệt lụa trừ nợ. Dọc đường đi, Đổng Vĩnh gặp một người con gái xinh đẹp và thùy mị, cùng hứa hẹn kết nghĩa trăm năm nhưng giao kết sau khi dệt xong 300 tấm lụa. Người con gái nói rằng nàng rất thạo nghề dệt lụa, nên xin theo chàng đến nhà phú hộ giúp chàng dệt cho mau xong.

Nhờ có nàng phụ giúp, Đổng Vĩnh dệt xong 300 tấm lụa rất mau và lụa rất đẹp.

Cả hai cùng trở về nhà, và khi đi ngang qua chỗ gặp nàng trước đây, người con gái nói với Đổng Vĩnh rằng :

– Tôi là Chức Nữ trên Trời, nhơn thấy anh nhà nghèo mà có lòng chí hiếu, nên xuống giúp công cho anh trả nợ, nay chẳng đặng đứng lâu.

Nói dứt thì mây giăng mù mịt, nàng đằng vân bay mất.

Đến đời nay, chỗ đó còn cái giếng giặt tơ làm dấu tích.

Đời Hậu Hán có người Đổng Vĩnh,
Nhà rất nghèo mà tánh rất thành.
Thấu chăng, chăng thấu Trời xanh,
Phụ tang để đó, nhân tình còn chi.
Liều thân thể làm thuê công việc,
Miễn cầu cho thể phách được yên.
Cực người thay nhẽ đồng tiền,
Đem thân hiếu tử băng miền phú gia.
Bỗng gặp kẻ đàn bà đâu đó,
Xin kết làm phu phụ cùng đi.
Lụa ba trăm tấm dệt thuê,
Trả xong nợ ấy mới về cùng nhau.
Đến chốn gặp bỗng đâu thoạt biến,
Là Tiên Cô Trời khiến giúp công.
Cho hay Trời vốn chiều lòng,
Há rằng cao thẳm ngàn trùng cách xa.

21. Giang Cách

Giang Cách, người đời Hậu Hán, mồ côi cha từ lúc còn bé, thờ mẹ rất hiếu. Gặp lúc loạn lạc, Giang Cách cõng mẹ chạy đi lánh nạn. Giữa đường quân giặc bắt được hai mẹ con. Ông khóc lóc van xin thảm thiết cho được sống để nuôi mẹ già. Quân giặc động lòng tha cho. Giang Cách đưa mẹ qua ở đất Hạ Bì, ngày ngày cố sức đi làm thuê nuôi mẹ cho qua cơn loạn lạc.

Hán Giang Cách cô đơn từ bé,
Bước truân chuyên với mẹ đồng cư.
Đương cơn loạn lạc bơ vơ,
Một mình cõng mẹ ngẩn ngơ dọc đường.
Từng mấy độ chiến trường gặp giặc,
Giặc cố tình hiếp bắt đem đi.
Khóc rằng : Thân mẹ lưu ly,
Tuổi già bóng chiếc biết thì cậy ai.
Giặc nghe nói thoắt thôi chẳng nỡ,
Rồi dần dà qua ở Hạ Bì.
Dấn mình gánh mướn làm thuê,
Miễn nuôi được mẹ quản gì là thân.
Mỗi đồ vật sắm lần no đủ,
Áng xuân phong tươi nét từ nhan.
Cho hay những lúc gian nan,
Thật vàng dẫu mấy lửa than cũng vàng.

22. Sưu Kiềm Lâu

Sưu Kiềm Lâu, người nước Tề, tánh rất có hiếu, được làm quan lịnh ở huyện Sàn Lăng, đến nhận chức chưa được 10 hôm thì xảy đâu lòng ông kinh hoảng lạ thường, mình đổ mồ hôi như tắm, thì ông biết cha mẹ ở nhà chắc là có việc gì xảy ra chẳng lành. Ông xin từ quan để trở về nhà, mới hay cha bịnh nặng đã 2 ngày. Lương y nói rằng : Nếu muốn biết bịnh khó dễ thì nếm thử phẩn, như có vị đắng thì chữa khỏi, còn có vị ngọt thì rất khó trị. Sưu Kiềm Lâu nếm phân thử thì cảm thấy có vị ngọt, lòng rất lo sợ tánh mạng của cha già,

Đêm đêm, ông đốt hương nhắm sao Bắc Đẩu khấn nguyện cho cha hết bịnh. Sau đó, ông mơ thấy một người đến đưa ra một cái thẻ vàng có chữ : Sắc Trời cho bình an. Quả nhiên, mấy ngày hôm sau thì cha ông uống thuốc khỏi bệnh.

Quan Thái Thú nghe ông Sưu Kiềm Lâu có lòng hiếu như vậy nên cho ông phục chức quan trở lại.

Sưu Kiềm Lâu có danh Tề quốc,
Huyện Sàn Lăng nhận chức thân dân.
Tới nha chưa được một tuần,
Mồ hôi như dội, tâm thần thường đau.
Treo ấn ruổi vó câu bươn bả,
Về thăm cha bệnh đã hai ngày.
Nếm dơ vâng cứ lời thầy,
Ngọt ngào đầu lưỡi, chua cay trong lòng.
Thấy sách dạy “bệnh trung nguy khổ “
Ước làm sao bệnh đỡ mới cam.
Đêm đêm hướng Bắc triều tam,
Xin đem tánh mạng thay làm thân cha.
Lòng cầu khẩn thấu tòa tinh tú,
Chữ bình an vui thú đình vi.
Cho hay máy động huyền vi,
Thay mình truyện trước còn ghi Kim Đằng.

23. Hoàng Đình Kiên

Hoàng Đình Kiên sinh vào đời nhà Tống, hiệu là Sơn Cốc, còn có tên là Tăng Trực, làm quan Thái Sử triều vua Nguyên Hựu, thờ cha mẹ rất hiếu thảo. Tuy làm quan chức cao, trong nhà có nhiều tôi tớ, nhưng ông tự mình chăm sóc những thứ đồ dùng để tiểu tiện của cha mẹ, dù dơ bẩn thế nào, ông cũng chính tay lau rửa, không để cho đày tớ làm.

Triều Nguyên Hựu có thầy Tăng Trực,
Là họ Hoàng ngồi chức Sử thần.
Ơn vua đã nhẹ tấm thân,
Phận con vẫn giữ thờ thân như ngày.
Đồ dơ bẩn tự tay lau chuốt,
Việc tầm thường chẳng chút đơn sai.
Há rằng sai khiến không ai,
Đem thân quan trọng thay người gia nô.
Chức nhân tử phải cho cần khổ,
Có mẹ cha mới có thân ta.
Cho hay đạo chẳng ở xa,
Hãy làm hiếu tử mới ra trung thần.

24. Tăng Tử

Tăng Tử, tên là Sâm, tự là Tử Dư, người ở ấp Vũ Thành nước Lỗ, sanh vào thời Xuân Thu, là học trò giỏi của Đức Khổng Tử, được đời sau tôn là Tông Thánh trong hàng Tứ Phối, truy tặng là Thành Quốc Công. Tăng Tử phụng dưỡng cha mẹ rất hiếu thảo. Bữa ăn nào cũng rán mua đủ rượu thịt cho cha mẹ dùng. Khi cha mẹ ăn xong, đồ ăn dư lại, cha mẹ muốn cho ai thì ông vâng lời đem cho người ấy.

Cảnh nhà hàn vi, ông thường vào rừng đốn củi. Có một người khách đến chơi, Mẹ muốn gọi ông về ngay nhưng không biết phải làm thế nào. Trong lúc lúng túng, bà cắn vào đầu ngón tay thật đau. Tăng Tử đang chặt củi trong rừng, chợt cảm thấy lòng quặn đau kỳ lạ, e có việc không hay xảy đến cho mẹ nên vội thu xếp gánh củi trở về nhà. Gặp mẹ mới giải rõ nguồn cơn. Thật là cốt nhục tình thâm tương cảm.

Đời Châu mạt có Thầy Tăng Tử,
Thờ mẹ cha thì giữ chí thành.
Bữa thường rượu thịt ngon lành,
Cho ai vâng cứ đành rành không sai.
Nhà bần bạc thường đi hái củi,
Quãng mù xanh thui thủi non sâu.
Mẹ ngồi tựa cửa bóng sau,
Nhơn khi khách đến trông mau con về.
Rối trong dạ nhơn khi cùng túng,
Cắn ngón tay cho động lòng con.
Trong non bỗng chốc bồn chồn,
Quặn đau khúc ruột bước dồn gót chơn.
Quì dưới gối kề gần thưa hỏi,
Lắng bên tai tỏ rõ nguồn cơn.
Cho hay từ hiếu tương quan,
Non Đồng tuy lở, không hàn tiếng chuông.

PHẦN KẾT

Bấy nhiêu tích cổ nhơn về trước,
Cách ngàn xưa như tạc một lòng.
Kể chi kẻ đạt người cùng,
Lọt lòng ai trốn khỏi vòng di luân.
Buổi công hạ cảm thân dày đội,
Xa hương quan gần cõi Thánh Hiền.
Trông vào những thẹn bóng đèn,
Muốn lưu gia phạm, nên truyền quốc âm.
Dịch giả : LÝ VĂN PHỨC

Nhận xét :

Trong 24 gương hiếu thảo mà Ông Quách Cự Nghiệp chọn ra từ trong các truyện tích xưa, chúng ta nhận thấy có 3 điển tích không được hoàn hảo, xin kể ra :

1. Ngô Mãnh 8 tuổi để cho muỗi mặc tình hút máu (Số 5).

2. Lục Tích 6 tuổi trộm quít đem về biếu mẹ (Số 10).

3. Quách Cự vì mẹ chôn con (Số 13).

* Nếu cho Ngô Mãnh là có hiếu thì cha mẹ của Ngô Mãnh mang tiếng là bất nhơn, không biết thương con, không bảo vệ con lúc con còn bé nhỏ, mới 8 tuổi, để cho con bị muỗi đốt sưng khắp mình mẩy, có thể bị bệnh nguy hiểm.

* Lục Tích, con nít mới 6 tuổi, ăn cắp quít bỏ vào túi, khi bị phát hiện thì nói là đem về biếu mẹ. Nếu cho Lục Tích là có hiếu tức là khuyến khích con nít ăn cắp đồ vật đem về cho cha mẹ.

* Quách Cự, không có cách giải quyết nào khác sao mà phải chôn con ? Sao không làm một mâm cơm riêng dâng mẹ ăn trước, mẹ ăn xong rồi thì vợ chồng con cái mới ăn sau. Nếu cho Quách Cự là có hiếu thì Quách Cự mang tiếng bất nhân, giết con.

Trong kho tàng điển tích xưa, còn rất nhiều gương hiếu thảo khác mà sao Quách Cự Nghiệp không chọn, như : Nhạc Phi, Đề Oanh, Tề Phụ, vv. . . mà lại chọn 3 điển tích vừa kể trên, thật là khó hiểu ! Chúng ta bàn qua để chỉ rằng việc chọn lọc các gương Hiếu thảo của Quách Cự Nghiệp có chỗ thiếu sót.

Chúng ta chỉ nên đề cao cái tinh thần của Nhị thập Tứ Hiếu là làm con phải hiếu thảo với cha mẹ là điều trước tiên, và chỉ nên trích dẫn những điển tích nào hoàn hảo.



Viết bình luận...