Tôn điệt phế nhi là trọng cháu bỏ con, ý nói : trong hoàn cảnh cực kỳ nguy hiểm, lo cứu cháu mà bỏ chết con.
Sách Tấn thư chép rằng : Ông Đặng Nho, tự là Bá Đạo, làm quan đời nhà Tấn, rất thanh liêm chánh trực.
Thuở nhỏ, Ông Đặng Bá Đạo sống với anh ruột rất thương yêu hoà thuận. Khi lớn lên, 2 anh em đều có vợ, rồi ra làm quan, tình thủ túc vẫn thuận hòa bền chặt. Chẳng may anh ruột và chị dâu vắng số, để lại đứa con trai tên là Đặng Tuy vừa được 2 tuổi. Đặng Bá Đạo đem cháu về nuôi dưỡng, thương yêu như con ruột, và cùng lứa với con trai của Bá Đạo.
Vợ chồng Bá Đạo chăm sóc con và cháu đều như nhau, không phân biệt. Lần lần 2 trẻ lớn lên cũng coi nhau như anh em ruột thịt, rất thương yêu nhau.
Cuộc sống an vui trôi qua trong ít lâu thì trong nước có Triệu Thạch Lặc nổi lên làm loạn, thế giặc rất mạnh, đánh chiếm được kinh thành, bắt sống vua và các quan nơi triều đình. Vợ chồng Bá Đạo cùng 2 trẻ phải chạy đi lánh nạn. Dân chúng khuyên Ông Bá Đạo nên ở lại, bởi vì Ông là vị quan thanh liêm, rất được dân chúng mến mộ, chắc bọn giặc không giết, chỉ bãi quan chức thôi, hoặc có thể dùng Ông làm quan trở lại. Bá Đạo nhứt định không chịu, quyết không theo giặc.
Trên đường bôn tẩu, vợ chồng Bá Đạo vai mang đồ đạc cồng kềnh, mỗi người dắt một trẻ chạy đi.
Chạy được một ngày đường thì quá thấm mệt, 2 vợ chồng lần lần bỏ bớt số đồ đạc mang theo cho nhẹ mình, đến lúc đã quá mệt thì bỏ đồ đạc lại tất cả, mang theo hết nổi, chỉ còn chừa sức để cõng con và cháu chạy đi, vì 2 trẻ cũng chạy hết nổi. Qua ngày hôm sau, giặc đuổi gần đến, vợ của Bá Đạo không còn sức để cõng con chạy nữa, hai người bây giờ chỉ còn có thể đùm bọc được một trẻ mà thôi.
Đặng Bá Đạo suy nghĩ rồi nói với vợ : “Đứa cháu là dòng máu sót lại của anh mình để nối hương lửa, nếu bỏ nó đi thì anh mình tuyệt tự. Vả lại, vợ chồng mình còn trẻ, có thể sanh đẻ thêm, nên tôi nhứt định bỏ con mình lại, mà lo bảo bọc cháu.” Còn đang bàn cãi với vợ, thì bọn giặc đuổi tới, vợ chồng Đặng Bá Đạo nén nỗi đau cắt ruột, đành bỏ con ở lại bên đường, Bá Đạo cõng cháu chạy đi, thoát khỏi vòng vây của giặc, lánh nạn đến xứ khác, làm thuê sống qua ngày.
Lần lần giặc cũng tạm yên. Vợ chồng Đặng Bá Đạo quyết không trở về xứ, ở nơi khác tìm cách làm ăn sinh sống, nuôi dạy đứa cháu nên người. Phần vợ chồng Bá Đạo lại không đặng hào con, không sanh được đứa con nào thêm nữa. Hai vợ chồng rất đau buồn, chỉ biết nhắm vào đứa cháu Đặng Tuy làm con nuôi mà thôi.
Quan Tạ Thái Phó biết được việc nầy, buồn mà than rằng : “Thiên đạo vô tri, sử Bá Đạo vô nhi”. (Nghĩa là : Đạo Trời không biết đến, làm cho Ông Bá Đạo không con).
Ngày tháng trôi qua, vợ chồng Bá Đạo già yếu, người con nuôi Đặng Tuy phụng dưỡng cha mẹ nuôi rất hiếu thảo, không khác gì con ruột. Đến chừng vợ chồng Bá Đạo mất, Đặng Tuy để tang cha mẹ nuôi 3 năm.
Nên sách Nho có viết rằng :” Đặng thị điệt tam tải trì tang, Bá Đạo vô hám”. (Nghĩa là : Cháu của họ Đặng ba năm cư tang, Ông Bá Đạo chẳng hận).