Bao Công là vị Tể Tướng của triều đình vua Tống Nhân Tông bên Tàu, Ngài còn có tên là Bao Chửng, tên chữ là Văn Chánh. Chẩn bần là cứu giúp người nghèo. Đội trạng là đem đơn dâng lên quan. Đầu cáo là đưa đơn đi kiện.
Ông Bao Công, nguyên là con của Viên Ngoại Bao Hoài ở thôn Bao Gia, huyện Hiệp Phì, phủ Lư Châu, tỉnh Giang Nam nước Tàu. Mẹ là Bà Châu Viện Quân.
Ngày kia, Viên Ngoại Bao Hoài ngồi một mình trong thư phòng, tinh thần mỏi mệt, chợp mắt mơ thấy trên không trung có mây lành bao phủ, từ xa có một lằn hồng quang xẹt tới, hiện ra một người có hình thù kỳ quái, mặt xanh tóc đỏ, miệng rộng răng to, một tay xách nghiên mực, một tay cầm bút son, nhảy đến trước mặt Viên Ngoại. Viên Ngoại hoảng sợ, giựt mình thức dậy, bụng còn hồi hộp. Con hầu liền xô cửa phòng bước vào nói : “ Bẩm Viên Ngoại, Bà vừa sanh được một công tử, nên con chạy lên báo tin mừng.”
Viên Ngoại liền vào xem, thấy đứa bé mới sinh ra có mặt đen như sơn, mình đỏ như son. Viên Ngoại gọi là Hắc Tử (con đen), đặt tên là Bao Công. Bao Công có 2 người anh là : Bao Sơn và Bao Hải.
Năm Bao Công được 9 tuổi, Bao Viên Ngoại rước Ninh Lão Tiên sinh về nhà dạy Bao Công học chữ. Bao Công thông minh tột bực, học đâu nhớ đó, lại còn biết suy diễn rất rộng, nổi tiếng thần đồng. Ninh Lão rất mừng, cho Bao Công là bực kỳ tài, nên đặt thêm một tên nữa là Bao Chửng, nghĩa là cứu vớt người chìm đắm, lại đặt tên chữ là Văn Chánh.
Bao Công thi đậu kỳ thi Hương, lên kinh dự thi Hội và đậu Tiến Sĩ. Vua Tống Nhân Tông bổ Bao Công làm Tri Huyện Định Viễn thuộc phủ Phụng Dương.
Vua Tống Nhân Tông nằm chiêm bao được Thần nhân mách bảo, Bao Công là tôi lương đống của triều đình, nên vua vời Bao Công về kinh, phong chức Lệnh Doãn phủ Khai Phong và chức Âm Dương Học Sĩ, sau được thăng lên chức Long Đồ Các Đại Học Sĩ.
Vua nghe dân chúng xứ Trần Châu thán oán vì tệ nạn quan lại tham nhũng, nên sai Bao Công ra xứ ấy tra xét vụ phát chẩn, đồng thời vua ban cho Bao Công : Ngự Trát Tam Đao, chia ra 3 phẩm : Long đao, Hổ đao, Cẩu đao, để trị tội những kẻ có tội từ bậc Hoàng thân Quốc thích hay quan Đại thần cho đến dân chúng.
Nguyên trước đây, xứ Trần Châu bị hạn hán 3 năm, dân chúng vô cùng đói khổ. Vua sai An Lạc Hầu Bàng Dực, con của Thái Sư Bàng Hồng, đi phát chẩn xứ đó. Bàng Dực đến nơi không phát chẩn mà lại hạch sách, bắt hiếp gái đẹp, làm dân chúng vô cùng thống khổ. Tiếng oán than thấu đến triều đình, khiến vua Nhân Tông sai Bao Công ra tra xét.
Bao Công đến nơi thấy tội của Bàng Dực quá rõ ràng, nên bắt Bàng Dực, rồi dùng Long Trát đao xử trảm. Dân chúng rất hả dạ, rồi Bao Công lo phát chẩn cứu giúp. Dân chúng nơi đây, lớp bị tai Trời, lớp bị quan tham, nay được tỏ nỗi oan khúc, được chẩn bần, nên rất cám ơn nhơn đức của Bao Công nhiều lắm.
Bao Công phát chẩn và an dân xong thì trở về kinh đô. Trên đường trở về, Bao Công luôn tiện dò la các nơi để giải oan cho dân.
Nguyên tại triều đình lúc đó có quan Ngự Sử Trần quốc Thanh, vợ là Y thị, tên thật là Trịnh Nương. Tánh Y thị trung chánh, thường can gián chồng không nên theo phe gian thần Thái Sư Bàng Hồng mà lập kế ám hại 2 tướng trung thần là Dương tôn Bảo và Địch Thanh. Y thị khuyên chồng :
– Việc ấy là việc tư thù của Bàng Thái Sư. Mình không nên liên can vào mà giúp họ sửa ngay thành vạy. Tướng công nên giữ lẽ công bằng mà lo việc nước để thanh sử mai sau, không nên dua theo Bàng Thái Sư mà hãm hại tôi trung.
Trần quốc Thanh nghe qua, cười bảo :
– Phu nhân nói sai rồi ! Tôi đây, nếu không có Bàng Thái Sư nâng đỡ thì không làm đến bực Ngự Sử, mà Phu nhân cũng không được đến bực Cao Mạng Phu nhân.
Y thị tiếp lời chồng :
– Bàng Thái Sư tuy là mạnh thế cao quyền, song hay làm điều gian ác, có khi Trời không để cho làm hoài đâu, đến chừng hết thời thì gian thần lộ mặt, tiếng xấu muôn đời.
Trần quốc Thanh nghe vợ nói đến 2 tiếng gian thần thì hơi nột, liền mắng lớn :
– Hỗn láo lắm ! Sao Phu nhân không giữ miệng để phạm lỗi với người trên, chuyện chẳng can hệ gì đến Phu nhân mà sao lại lắm lời, khiến đất bằng sóng dậy ?
Y thị dịu lời nói tiếp :
– Chẳng phải thiếp muốn sanh sự, nhưng thiếp muốn bày tỏ hơn thiệt với Tướng công để gia đình mình tránh khỏi tai họa mà thôi.
– Cha chả ! Ai dám làm gì ta mà Phu nhân lại bảo ta nghe theo đặng tránh khỏi tai họa. Phu nhân im đi, để thử coi ai dám làm tai họa cho ta.
– Xin Tướng công dằn lòng xét lại, nếu không nghe lời khuyên của thiếp mà theo bọn gian tặc thì có ngày mang họa.
– Đồ hỗn láo ! Sao mi dám nói Bàng Thái Sư là gian tặc ? Nếu trả lời không xong thì đừng có trách.
– Xin Tướng công bớt giận, Thiếp nói như vậy là ý muốn Tướng công theo điều trung nghĩa, chớ Bàng Thái sư không là gian tặc sao lo kiếm kế mưu hại trung thần, ông ta lại còn tham lam tiền của nên khiến cho triều đình rối hoài, như thế gọi là gian tặc thì không đúng sao ? Tướng công ôi ! Con mắt của người ta là ngọc, hễ thấy ngay thì liền biết ngay, thấy gian thì biết gian. Thiếp tưởng không sao che đậy được những mưu gian ác của Bàng Thái Sư được nữa.
– Vậy chớ mi biết Bàng Thái Sư hãm hại trung thần nào ? Nếu chỉ không ra chớ trách ta chẳng vị.
– Thì việc sờ sờ trước mắt đó. Như Dương tôn Bảo là dòng dõi trung thần, gìn giữ giang sơn nhà Tống, trấn thủ Tam quan, ngăn binh ngoại tặc, thiệt là trụ thạch chi thần; còn Địch Thanh là cháu của Địch Thái Hậu, cũng là dòng dõi trung thần, chống giặc lập được nhiều công lớn. Tướng võ như 2 ông ấy thật là quốc gia lương đống. Thế mà Bàng Thái Sư mưu hại 2 tướng ấy vì thù riêng thì lấy ai chống giữ giang sơn. Gia đình mình hưởng ơn vua lộc nước thì nên giữ một lòng trung quân ái quốc, lưu danh hậu thế, còn theo Bàng Thái Sư thì chắc là lưu xú vạn niên. Tướng công nên xét lại.
Trần quốc Thanh nổi giận, quát :
– Mi là đàn bà biết gì mà dám khua môi múa lưỡi, buông lời hỗn ẩu như thế.
Vừa nói vừa xốc lại đánh vả vào mặt Y thị.
A huờn hoảng hốt đồng chạy lại nắm tay Trần quốc Thanh, hết lời van xin, lạy lục; tớp khác dìu Y thị vào phòng.
Y thị ở trong phòng từ trưa đến chiều, không chịu ăn cơm, một mình buồn bực. Y thị lấy bút viết bài thi :
Thân nầy một thác dạ không phiền,
Ba chục xuân xanh vậy cũng tuyền.
Miễn đặng phu quân chừa tánh cũ,
Thiếp về chín suối cũng là yên.
Y thị viết bài thơ xong thì thắt cổ chết.
Trần quốc Thanh hay tin, cười gằn bảo :
– Bớ Y thị ! Ai bảo mi làm tài khôn mà lo đến công việc của ta. Nay mi hại lấy mi, ấy là tại cái miệng của mi mà mang họa, chớ trách ta là chồng sao chẳng tưởng vợ.
Nói rồi ra lịnh cho gia nhân khiêng xác Y thị ra sau vườn, móc một lỗ chỗ bùn lầy dập thây xuống đó. Đó là đêm mùng 2 tháng 3. Các a huờn xúm xít than thở vái rằng : “Nay Phu nhân chết một cách thảm thiết, thân thể như vầy, thiệt là Lão gia tàn nhẫn, không nghĩ đến tình nghĩa vợ chồng. Phu nhân ôi ! Nếu có linh thiêng thì Phu nhân xuống cáo với Diêm Vương đặng Diêm Vương xét cho Phu nhân.”
Đêm đó, Trần quốc Thanh khiến con a huờn Tố Lang vào phòng, đặt lên làm Phu nhân thay Y thị.
Hồn Y thị xuống Diêm đình, tỏ hết duyên cớ. Diêm Vương xem xét, thấy Y thị có số sống tới 88 tuổi, mà nay mới 30 tuổi, còn Trần quốc Thanh chỉ sống 36 tuổi, mà số bị chết nơi pháp trường ngày mùng 8 tháng 3. Diêm Vương phán :
– Chồng nàng ít ngày nữa thì mãn số. Nàng mau trở về dương thế mà cáo việc oan ức với Bao Công thì người sẽ có phép mà cứu nàng sống lại.
Phán rồi, sai quỉ sứ dẫn hồn Y thị đến xứ Trần Châu giao cho vị Thần hoàng xứ ấy hộ trợ.
Nói về Bao Công, đi vừa đến xế thì qua một cánh đồng vắng. Bỗng có một cơn gió lạnh thổi qua, tiếng gió nghe thảm thiết, Bao Công lấy làm lạ, cho kiệu dừng lại. Bao Công nói :
– Có lẽ có oan hồn uổng tử chi đây chớ chẳng không. Nếu oan hồn có điều chi oan ức thì đêm nay báo cho ta rõ, ta sẽ hết sức minh oan cho.
Nói vừa dứt thì cơn gió bay phất qua rồi tan mất. Bao Công khiến Trương Long, Triệu Hổ, Đổng Siêu, Thiết Bá Trân lập đài, 4 người trấn 4 góc, còn Bao Công thì chờ đêm khuya lên đài đốt đèn ngồi chờ. Đến canh ba, xảy có luồng gió lạnh thổi tới, bỗng có một người đàn bà hiện đến, quì trước mặt Bao Công thưa rằng :
– Thiếp là Y thị, tên Trịnh Nương, vợ của Trần quốc Thanh đang làm Ngự Sử nơi triều đình.
– Nếu nàng là vợ của quan Ngự Sử Trần quốc Thanh thì cũng là bực Phu nhân. Xin Phu nhân đứng dậy nói cho ta rõ.
Hồn Y thị vâng lời, đứng dậy, thuật hết các việc cho Bao Công nghe, và việc mình tự ải. Bao Công nói:
– Nếu vậy thì Phu nhân cũng có chỗ quấy. Hễ đàn bà xuất giá theo chồng thì phải giữ Tam tùng. Nay Trần Ngự Sử có lòng bất trung, không nghe lời can gián nên Phu nhân liều mình, như vậy thì thôi, có đâu đem việc của chồng mà cáo ?
– Thiếp thác đây là tại thiếp, thiếp nào dám oán trách chồng, song thiếp đã làm Cao Mạng Phu nhân rồi mà chồng không tưởng đến thiếp, lẽ thì phải sắm quan quách mà chôn cất tử tế mới đáng, có đâu để thi hài bộc lộ rồi đem vùi xuống bùn như vậy ! Có phải là khi dể triều đình không ? Rồi lại dùng một con tỉ tất làm vợ, để nó lên bậc Phu nhân, có phải làm rối cang thường chăng ? Nay thiếp không tố cáo đám gian thần thì còn chi tánh mạng của 2 trung thần là Dương tôn Bảo và Địch Thanh ? Địch Thanh lãnh lịnh vua làm Khâm Sai đem chinh y ra Tam quan cho quân sĩ mặc đỡ lạnh trong mùa Đông, bị Bàng Thái Sư thông mưu cùng bọn địch bên ngoài đánh cắp hết chinh y. Địch Thanh dũng mãnh đánh lại, giết được 2 tướng giặc, bộ hạ của Bàng Thái Sư, lấy 2 thủ cấp, thu lại được toàn bộ chinh y, giao 2 thủ cấp nầy cho Tiêu Đình Quí, người của Dương Tôn Bảo, đem về trước báo tin, nhưng dọc đường, Tiêu Đình Quí uống rượu say, đem 2 thủ cấp ra khoe công cùng thiên hạ, chẳng may gặp con của Lý Thanh, bắt Quý trói lại, bỏ dưới sông, giựt 2 thủ cấp đem trình Dương Tôn Bảo để lập công. Chẳng ngờ âm mưu của Lý Thanh bại lộ, 2 cha con Lý Thanh bị Dương tôn Bảo giết chết.
Vậy mà Bàng Thái Sư còn xảo quyệt, luận kế tâu lên Thánh Thượng cho cha con Lý Thanh có đại công, Dương Tôn Bảo có tội và Địch Thanh giết người để mạo công. Bàng Thái Sư sai Tôn Võ, đồng bọn gian nịnh, lãnh chỉ ra Tam quan ải điều tra sự việc, tìm các hại Dương Tôn Bảo, bị Tiêu Đình Quí nóng tánh đánh cho một trận nên thân, rồi bị Dương Tôn Bảo bắt giải về triều, nhờ Thánh Thượng phán xét.
Có thế mà Bàng Thái Sư lại buộc tội là khi lịnh. Vì vậy Thánh Thượng sai đi bắt 2 người ấy về trào, rồi chắc cũng giao cho lũ gian thần tra vấn. Lúc nầy là lúc mà 2 người ấy như cá lội trong chảo. Nếu Lão gia không về trào ngay mà công luận thì 2 tôi lương đống đó không còn.
Bao Công nghe dứt thì khen rằng :
– Phu nhân là đàn bà mà còn biết thương vua thương tướng. Như vậy thật đáng bực hiền triết phu nhân. Bây giờ Phu nhân về kinh trước đi, tôi sẽ lập tức theo sau kíp lo việc ấy.
Hồn Y thị lạy tạ rồi biến mất.
Bao Công liền xuống đài, truyền quân đốt đuốc lên đường ngay trong đêm đó, đi riết, tới chiều ngày mùng 5 tháng 3 thì đến kinh đô. Rạng ngày mùng 6, Bao Công vội vào triều đình, tâu hết các việc với Tống Đế, rồi xin mượn 3 món Huợt mạng bửu bối đem đến bốc mộ cứu nàng Y thị.
Y thị sống lại. Bao Công lập hình án xử trảm Ngự Sử Trần quốc Thanh đúng vào sáng mùng 8 tháng 3, sau đó lập nhiều đối chứng công khai minh oan cho 2 tướng Dương tôn Bảo và Địch Thanh.
Bàng Thái Sư và bè lũ gian thần về sau bị phanh phui các tội lỗi, hết đường chối cãi, đều bị xử trảm.