Vua Văn Vương (tên là Cơ Xương, trước làm chức Tây Bá Hầu) là vị vua khai sáng nhà Châu (Chu) vào thời Thượng cổ nước Tàu. Nhà Châu kéo dài được 867 năm kể từ năm 1122 đến năm 255 trước Tây lịch kỷ nguyên.
Thời vua Trụ nhà Ân, nước Tàu có tất cả 800 chư Hầu, được chia làm 4 Trấn theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi Trấn có một vị Tổng Trấn đứng đầu để cai quản các chư Hầu trong phương đó, kể ra :
· Tổng Trấn Tây Kỳ là Tây Bá Hầu Cơ Xương.
· Tổng Trấn Đông Lỗ là Đông Bá Hầu Khương Hoàn Sở, là quốc trượng, cha của Khương Hoàng Hậu.
· Tổng Trấn Nam phương là Nam Bá Hầu Ngạt Sùng Võ.
· Tổng Trấn Bắc phương là Bắc Bá Hầu Sùng Hầu Hổ.
Triều đình của vua Trụ lúc bấy giờ có 2 tay gian thần là Vưu Hồn và Bí Trọng, về phe Đắc Kỷ, ám hại Chánh Cung Khương Hoàng Hậu, để đưa Đắc Kỷ lên làm Hoàng Hậu, lại sợ 4 Trấn chư Hầu làm phản, nên tâu Vua Trụ xuống chiếu đòi 4 Tổng Trấn về triều đặng tìm cách giết chết.
Nói về Tây Bá Hầu Cơ Xương, sau khi tiếp được chiếu đòi của vua Trụ thì lo sắp đặt công việc triều đình, gọi con trưởng là Bá Ấp Khảo đến căn dặn :
– Hôm qua, Thiên sứ đem chiếu đòi cha về triều Thiên tử, cha có bói một quẻ thấy chuyến đi nầy dữ nhiều lành ít, dẫu không chết nhưng bị tai nạn 7 năm. Con ở lại Tây Kỳ phải noi theo lề luật trước mà làm, không nên đổi phép nước. Anh em phải hòa thuận, tôi chúa phải thương yêu, muốn làm việc gì phải tính kỹ lưỡng, khi dân nghèo phải xuất kho cứu giúp, dân no phải dạy dỗ, chớ nên khắc khe, đợi 7 năm mãn hạn cha về, chớ nên thăm viếng.
Thế rồi Tây Bá Hầu Cơ Xương theo sứ giả đi đến triều ca. Ba vị Tổng Trấn kia cũng vừa đến, đồng vào chầu vua Trụ.
Trước tiên, vua Trụ bắt tội Đông Bá Hầu Khương Hoàn Sở, truyền võ sĩ đem chém. Nam Bá Hầu Ngạt Sùng Võ đứng ra can vua Trụ không được, tức giận mắng vua, bị vua Trụ bắt chém luôn. Tây Bá Hầu cũng can vua, can không được thì đành gạt lệ chớ không mắng vua, nên vua Trụ không có cớ để giết. Còn Bắc Bá Hầu là Sùng Hầu Hổ, có công cất Lộc đài cho vua Trụ, lại a tòng theo đám nịnh thần, nên được yên thân.
Bọn Vưu Hồn và Bí Trọng thấy chưa có cớ để giết Tây Bá Hầu, nên không yên tâm, liền làm bộ tiễn đưa Tây Bá trở về Tây Kỳ để tìm cách ám hại. Vưu Hồn nói với Tây Bá :
– Tôi nghe Hiền Hầu có tài bói quẻ Tiên Thiên hay lắm, xin xem giùm khí số của Bệ hạ ra sao ?
Lúc đó Tây Bá đã uống rượu tiễn đưa cũng khá nhiều, nên nổi hứng, quên việc đề phòng 2 tên gian nịnh, liền lấy quẻ ra gieo, nói :
– Khí số của Bệ hạ lu lám, sợ truyền chỉ một đời nầy thôi và bị chết một cách dữ dằn. Nay Thiên tử làm quá, ấy là thúc tới cho mau. Mình phận bề tôi không đành cạn tiếng.
Bí Trọng hỏi :
– Chẳng hay ứng tại năm nào ?
– Không ngoài 28 năm, ngày Giáp Tý năm Mậu Ngọ.
Vưu Hồn và Bí Trọng làm bộ than thở, nói tiếp :
– Xin Hiền Hầu coi giùm 2 đứa tôi sau nầy ra sao ?
Tây Bá liền gieo quẻ, ngẫm nghĩ hồi lâu, nói :
– Lạ lắm ! Tuy có nhiều cách chết nhưng 2 ông vì cớ nào bị tuyết sa, dưới bị giá lạnh mà chết.
– Tại chúng tôi có ngày sanh tháng đẻ thuộc thủy nên chết lạnh cũng mát. Còn Hiền Hầu thì sau chết cách nào ?
– Tôi sau nầy già yếu mang bịnh rồi chết.
Hai tên gian thần Vưu Hồn và Bí Trọng như 2 con rắn độc, trở về triều thêu dệt thêm, tâu cùng vua Trụ :
– Hai tôi giả đến đưa tiễn Tây Bá để dò xét, Cơ Xương coi quẻ Tiên Thiên cho Bệ hạ, rồi oán trách mắng Bệ hạ, nói Bệ hạ chỉ có một đời nầy rồi mất nước trong 28 năm nữa, Bệ hạ bị chết một cách dữ dằn. Còn y thì già bịnh rồi chết. Rõ là lời nói mị, dối thế gạt dân, Bệ hạ để làm chi loại đó.
Vua Trụ tức giận, liền sai Triều Điền theo bắt Tây Bá Hầu trở lại, không cho về nước.
Tây Bá Hầu, sau khi tỉnh rượu, nhớ lại cuộc đối đáp với Vưu Hồn và Bí Trọng thì giựt mình, biết mình lỡ lời, tai họa sắp đến nơi, liền thấy Triều Điền kéo binh tới, biết là cái hạn của mình không thể tránh khỏi, liền nói với các gia tướng :
– Chúng bây mau trở về Tây Kỳ, nói với Bá Ấp Khảo làm đúng lời ta dặn, ta bị nạn 7 năm, sau ta mãn hạn trở về, đừng thăm viếng.
Triều Điền đưa Tây Bá trở lại triều. Vua Trụ phán :
– Ngươi bày ra bói quẻ Tiên Thiên chi đó mà nhạo báng Trẫm, tội ấy không dung đặng. Ngươi chê Trẫm chết không đặng tử tế, còn ngươi chết già, không phải nói nhục Trẫm sao ? Nay Trẫm làm cho quẻ Tiên Thiên của ngươi không thiệt, ngươi chẳng đặng chết già cho mà coi.
Nói rồi truyền võ sĩ bắt Tây Bá đem chém.
Hoàng Phi Hổ, Tỷ Can và các đại thần thất kinh, tâu :
– Xin Bệ hạ tha cho Cơ Xương về nước, còn sách bói Tiên Thiên là của vua Phục Hy làm ra, không phải Cơ Xương bày đặt, cứ theo quẻ mà bàn, nói ngay nói thẳng chớ không phải như đứa tiểu nhân bịa chuyện. Xin Bệ hạ bỏ qua việc nhỏ kẻo hại việc lớn. Bởi Cơ Xương đức hạnh, chư Hầu kính trọng. Nếu Bệ hạ bảo Cơ Xương bày quẻ Tiên Thiên mà dối đời thì truyền bói thử, như bói sai thì bắt tội, bói trúng thì tha về.
Vua Trụ thấy nhiều đại thần can gián, chưa thể giết Tây Bá, liền truyền Tây Bá bói thử một quẻ xem trong triều có việc chi gần thấy. Tây Bá vâng lịnh, lấy tiền vàng xủ quẻ, thất kinh tâu rằng :
– Xin Bệ hạ thỉnh mấy vị thần chủ ra ngoài, kẻo giờ Ngọ trưa mai lửa cháy nhà Thái miếu.
Vua Trụ phán :
– Vậy thì giam đỡ Tây Bá một đêm, chờ giờ Ngọ ngày mai sẽ nghị.
Vua Trụ nói rồi thì bãi triều, các quan đồng lạy tạ ra về. Vua Trụ hỏi Vưu Hồn và Bí Trọng :
– Nếu ngày mai lửa cháy nhà Thái miếu thì tính sao ?
– Xin Bệ hạ truyền quan giữ Thái miếu, ngày mai cấm thắp hương, cấm đốt lửa, canh giữ nghiêm nhặt thì đâu cháy được.
Vua Trụ khen phải rồi y lời.
Đến giờ Ngọ ngày mai, các quan đều tụ tập rất đông chờ xem. Đúng giờ Ngọ rồi mà chưa thấy lửa cháy, ai cũng lo sợ cho Tây Bá phen nầy phải chết. Bỗng tiếng sấm nổ thinh không vang Trời, ngọn lửa phát ra, liền có quan vào báo :
– Nhà Thái miếu bắt lửa cháy hết rồi.
Các quan đều hoảng sợ. Tỷ Can than : “ Lửa đốt hết nhà Thái miếu, ắt cơ nghiệp Thành Thang không còn.”
Vua Trụ nghe tin, hoảng sợ bất tỉnh, giây lâu nói :
– Cơ Xương quả thật là Thánh nhân, biết liệu làm sao ?
Bí Trọng tâu :
– Cơ Xương quá tài giỏi, không nên cho về nước để phòng hậu hoạn. Bệ hạ chỉ tha chết nhưng buộc Cơ Xương phải ở thành Dũ Lý, đợi yên việc nước sẽ cho về Tây Kỳ.
Vua Trụ lâm trào truyền lịnh y như vậy.
Dân chúng trong thành Dũ Lý hay tin, đem lễ vật đón rước Tây Bá vào thành, nói rằng :
– Nay có Thánh nhân đến đây, mừng biết chừng nào !
Tây Bá bị buộc ở nơi Dũ Lý chớ không tù tội chi, nên Ông lấy điều lễ nghĩa dạy dân, cả thành đều mến đức.
Ông dùng thời giờ nhàn rỗi để tâm nghiên cứu Bát Quái Tiên Thiên của vua Phục Hy, Hà Đồ, Lạc Thơ, rồi Ông chế ra Bát Quái Hậu Thiên bằng cách thay đổi vị trí các quẻ, phối hợp với Ngũ Hành để giải thích về vạn vật hữu hình.
Vua Phục Hy đặt ra 64 quẻ Tiên Thiên nhưng không có văn tự giải thích. Tây Bá (sau nầy là vua Văn Vương) nghiên cứu, viết ra Thoán Từ giải thích ý nghĩa cát hung của mỗi quẻ.
Nhờ đó, ông biết rõ mệnh Trời, tâm hồn thanh thản, an phận vui theo mệnh Trời, không oán trách vua.
Tù túng bảy năm thành Dũ Lý,
Điểm trang một tập quẻ Tiên Thiên.
Dạy đời muôn việc điềm hung kiết,
Để tiếng ngàn thu bậc Thánh Hiền.
Ngày qua tháng lại, Tây Bá ở Dũ Lý gần đúng 7 năm.
Ở Tây Kỳ, Bá Ấp Khảo nhớ thương cha than rằng :
– Vua cha bị nạn gần 7 năm. Đạo làm con không đi thăm sao phải. Nay ta tính đem 3 vật báu của ông bà để lại dâng cho Trụ Vương, chuộc tội cho cha về nước.
Táng Nghi Sanh và các quan can gián hoài mà không được. Bá Ấp Khảo quyết ý, vào cung thưa với mẹ. Mẹ hỏi :
– Nếu con đi thăm cha, việc nước con giao cho ai ?
– Em con là Cơ Phát coi việc triều đình, việc văn có Táng Nghi Sanh, việc võ có Nam Cung Hoát.
Bá Ấp Khảo từ giã mẹ cùng các em và các quan, đem 3 vật báu đến thẳng triều ca, ra mắt Thừa Tướng Tỷ Can nói :
– Tôi có mang theo 3 vật báu là : Thất Hương xa, Tỉnh tửu chiên, con Bạch viên, 3 vật báu ấy lưu truyền từ Thỉ Tổ Đản Phụ tới nay, tôi lại chọn 5 cặp mỹ nhơn cùng đem đến dâng lên Thiên tử chuộc tội cho cha, xin Thừa Tướng giúp đỡ.
Thừa Tướng Tỷ Can hỏi : – Ba vật báu ấy ra làm sao ?
– Thất Hương xa, nguyên là xe của Xi Vưu, do vua Huỳnh Đế thuở xưa qua Bắc Hải đánh thắng Xi Vưu lấy đặng đem về làm báu vật. Người ngồi trên xe nầy chẳng cần ai đẩy, muốn đi đâu thì nó chạy tới đó. Cái Tỉnh tửu chiên là nệm tỉnh rượu, đương say rượu quá độ, nằm trên nệm nầy thì tỉnh lại liền. Còn con Bạch viên, tuy là loài khỉ nhưng nó sống hơn ngàn năm rồi, thuộc 800 bản đàn, biết 3000 bài hát, ca giữa tiệc rượu, múa trên bàn tay, tiếng ca lảnh lót như chim, điệu múa nhẹ nhàng như nhành liễu.
Tỷ Can nghe nói thế thì than rằng :
– Ba vật ấy rất quí báu, song ta chẳng vui vì ngày nay vua đam mê tửu sắc, bỏ việc triều đình, mà còn có thêm vật chơi cống sứ, ấy là xúi thêm việc tửu sắc. Nhưng vì công tử có lòng hiếu hạnh nên ta dâng sớ tâu cho.
Bá Ấp Khảo theo Tỷ Can vào chầu vua Trụ.
Vua Trụ động lòng thương, muốn mở đức ban ơn, nhưng Đắc Kỷ nảy giờ lắng nghe, nhìn kỹ Bá Ấp Khảo thấy chàng nầy quá đẹp trai, muốn giữ lại nên tìm kế nói rằng :
– Khi tôi còn ở Ký Châu, nghe danh Bá Ấp Khảo có tiếng đàn tuyệt diệu, xin Bệ hạ dạy công tử đàn một bài.
Bá Ấp Khảo liền tâu :
– Xin Nương tha tội, vì lâu nay cha tôi bị cầm nơi Dũ Lý, nghĩ làm con đau lòng từng đoạn, lòng bối rối tơ vò, làm sao đàn cho hay được.
Vua Trụ phán :
– Bá Ấp Khảo đương cảnh rối trí mà đàn được một bản cho hay thì Trẫm ra ơn cho cha con về nước.
Bá Ấp Khảo mừng rỡ, ôm đàn so dây, đàn một bản Phong nhập tòng, tiếng đàn lảnh lót như tiếng nhạc cõi Tiên. Vua Trụ đẹp dạ, truyền dọn tiệc trên lầu.
Đắc Kỷ nhìn Bá Ấp Khảo thì say đắm lòng tà, quyết giữ Bá Ấp Khảo lại, mượn cớ học đàn để thỏa lòng hoa bướm.
Nhưng Bá Ấp Khảo tánh tình đoan chánh, lòng sáng tợ gương, Đắc Kỷ không sao lung lạc được, nên giận lắm, tìm cách hãm hại cho bỏ ghét. Sáng ngày, Đắc Kỷ tâu :
– Bá Ấp Khảo có dâng một con vượn bạch, sao Bệ hạ không truyền cho nó ca hát nghe thử ?
Vua Trụ dạy Bá Ấp Khảo đem vượn bạch đến. Bá Ấp Khảo giao cho nó một cặp sanh, nó liền cầm sanh vừa nhịp vừa hát. Tiếng ca hay như phụng gáy loan kêu, làm vua Trụ mê mẩn tâm thần, Đắc Kỷ nghe gần gục, lát sau như mê man, giữ mình không vẹn, khí yêu thoát ra, sắp hiện hình lớp cáo. Vượn bạch sống cả ngàn năm, đôi mắt tinh anh, coi thấu loài yêu tinh, biết Đắc Kỷ là chồn cáo ngồi dựa vua thì ghét lắm, liền bỏ cặp sanh xuống, nhảy lên chụp đại, khiến Đắc Kỷ xể mặt. Vua Trụ chợt tỉnh, rút kiếm chém vượn một nhát chết tươi. Đắc Kỷ giận quá tâu rằng :
– Bá Ấp Khảo đem vượn nầy tới làm thích khách, may mà Bệ hạ chém được nó, không thì mạng thiếp chẳng còn.
Vua Trụ truyền bắt Bá Ấp Khảo đem quăng xuống Sái Bồn cho rắn ăn thịt, nhưng Đắc Kỷ nói :
– Thiếp nghe người ta đồn Tây Bá là Thánh nhân, rõ đường họa phước, mà Thánh nhân thì không ăn thịt con. Thiếp tính sai kẻ đầu bếp lóc thịt Bá Ấp Khảo làm nhưn bánh bao đem cho Tây Bá, nếu Tây Bá ăn thì nó là kẻ phàm tục, không phải Thánh nhân, Bệ hạ tha cho nó về, còn nó không ăn, quả thật là Thánh, Bệ hạ nên giết đi cho khỏi mắc họa về sau.
Vua Trụ khen : – Ý Hậu rất hay, cho thi hành.
Nói về Tây Bá Hầu đang ở thành Dũ Lý, thường ngày đóng cửa viết sách lưu truyền, nhơn khi rảnh đem đàn ra dạo, nghe tiếng đàn réo lắm, sanh nghi có việc chẳng lành, liền lấy quẻ Tiên Thiên gieo thử, đoán ra mọi việc về Bá Ấp Khảo, liền té ngửa kêu Trời, khóc rống than rằng : Bởi con không nghe lời cha, nên chết thảm. Nay nếu ta không ăn thịt con thì mong chi thoát nạn, mà ăn thịt con thì nuốt sao đành !
Xảy nghe có Thiên sứ đến. Tây Bá gượng làm vui, sửa soạn ra chào hỏi. Thiên sứ nói rằng :
– Bệ hạ thấy Hiền Hầu tù túng đã lâu, đem lòng thương xót, nay săn đặng thịt nai làm bánh, ban tặng Hiền Hầu.
Tây Bá Hầu lạy tạ nhận bánh, nói :
– Nhờ ơn Thiên tử cho bánh thịt nai. Cầu cho Bệ hạ sống lâu muôn tuổi, trị vì bốn biển.
Nói rồi lấy bánh ra ăn, ăn hết 3 cái. Sứ thần trở về tâu lại cho vua Trụ rõ.
Nói về Bá Ấp Khảo, sau khi bị vua Trụ bắt giết, mấy tên gia thần trốn về Tây Kỳ báo cáo tự sự cho Cơ Phát. Táng Nghi Sanh nói :
– Khi xưa, Chúa Công đã dặn kỹ nhiều lần, chờ mãn hạn Chúa Công trở về, không được thăm viếng. Bởi Đại Công tử quá thương nhớ Chúa Công, chẳng nghe lời can gián nên mới xảy ra cớ sự. Bây giờ xin viết thơ, dâng lễ vật trọng hậu cho 2 gian thần Vưu Hồn và Bí Trọng để chúng tâu Thiên tử cho Chúa Công về nước. Khi Chúa Công đã về nước rồi thì cứ lấy đức hóa dân, chờ vua Trụ hết thời thì cử binh chinh phạt. Nếu nóng vội thì không thể thành công.
Cơ Phát nghe tâu, tỉnh ra biết rõ, kíp cho thi hành.
Khi nhận của đút lót xong, Vưu Hồn và Bí Trọng tâu :
– Như Bệ hạ muốn dung cho Tây Bá về xứ thì nên mua chút nhơn tình. Nay Khương văn Hoán (con của Khương Hoàn Sở) làm phản, đánh ải Du Hồn, Đậu Dung cầm cự 7 năm nay đà mệt mỏi. Sùng ngạt Thuận (con của Sùng hầu Hổ) làm phản, đánh phá ải Tam Sơn, Cửu Công gìn giữ một cõi cheo leo. Theo ý hạ thần, Cơ Xương trung nghĩa, nên phong Vương, cấp búa Việt cờ Mao, đặng phép đánh Nam dẹp Bắc. Bởi Cơ Xương nhơn đức, thiên hạ phục tùng, nếu đặng quyền chinh phạt thì 2 mũi Đông và Nam sợ oai mà thôi đánh.
Trụ Vương nghe tâu đẹp ý, truyền chỉ tha Tây Bá, phán :
– Khanh bị cầm nơi Dũ Lý 7 năm mà không một lời oán trách, lại cầu cho Trẫm được sống lâu, nước nhà thạnh trị, ấy là trung nghĩa hết lòng. Nay Trẫm phong khanh chức VĂN VƯƠNG, ban Búa Việt Cờ Mao cho khanh đặng quyền chinh phạt chư Hầu làm phản, lương mỗi tháng 1000 giạ, cho dạo chơi kinh thành 3 ngày, rồi được 2 quan văn võ đưa về nước.
Tây Bá Hầu Cơ Xương lạy tạ lãnh chức, mặc áo đội mão Văn Vương, đến đền Long Đức dự tiệc. Bá quan chúc mừng. Xong tiệc, Văn Vương vâng lịnh đi khoe quan 3 ngày ở kinh thành. Dân chúng đi coi chật đường. Xảy gặp Hoàng Phi Hổ diễn binh về. Văn Vương vội vàng xuống ngựa vái chào. Hoàng Phi Hổ nắm tay mừng rỡ, lựa lúc nói nhỏ rằng : ” Hoàng Thượng hôn ám, không phân trung nịnh, đổi ý liền liền, nay Đại Vương như cọp sổ lồng, sao không mau về xứ, còn ở khoe quan ?” Văn Vương nghe ra, phập phòng lo sợ nói : “ Lời Ngài như vàng ngọc, cứu Cơ Xương nầy một lần nữa. Dẫu thân nầy có thác thì nghĩa nọ cũng khó đền, song 5 ải đón ngăn, làm sao qua được ? “
Hoàng Phi Hổ trao cờ lịnh dặn rằng : “ Phải giả dạng đi đêm có việc gấp, có cờ lịnh nầy, qua 5 ải không ai cản trở.”
Văn Vương, đêm ấy, nghe theo lời Hoàng Phi Hổ, thay đổi quần áo, giả dạng đi gấp ra khỏi triều ca.
Vua Trụ hay tin mật báo, có ý nghi ngờ, bèn sai Ân Phá Bại và Lôi Khai dẫn quân theo bắt Văn Vương trở lại.
Lúc đó Văn Vương chạy tới ải Lâm Đồng, 2 tướng Ân và Lôi cũng kéo binh sắp đến, ngó thấy bụi bay mù mịt. Văn Vương sợ hãi, chưa biết cách nào thoát thân về Tây Kỳ.
(Tới đây, xem tiếp Điển tích số 58 : Lôi Chấn Tử cứu cha thoát nạn.)