Từ Thức là người ở Hòa Châu, đời nhà Trần của nước Việt Nam, được phụ ấm, bổ làm quan Tri Huyện Tiên Du.
Bên cạnh dinh huyện có một cảnh chùa nổi tiếng, trồng nhiều hoa mẫu đơn rất đẹp. Mỗi kỳ hoa nở, người các nơi đến xem hoa rất đông, thành một hội xem hoa.
Tháng 2 năm Bính Tý (1396), niên hiệu Quang Thái thứ 9 đời vua Trần Thuận Tông (1388-1398), trong hội xem hoa có một cô gái tuổi chừng 16, nhan sắc xinh đẹp, đến xem hoa, chẳng may làm gãy một cành mẫu đơn. Người giữ vườn hoa bắt đền. Trời sắp tối mà không có ai là thân nhân của cô gái đến nhận bồi thường. Cô gái phát khóc. Từ Thức đi xem hoa, có mặt lúc ấy, động lòng thương, liền cỡi chiếc áo gấm màu trắng đang mặc, trao cho người giữ vườn, để chuộc lỗi cho cô gái. Nhờ vậy cô gái mới đi được. Mọi người đều khen ngợi quan Huyện có lòng nghĩa hiệp.
Từ Thức vốn tính phóng dật, không chịu câu thúc trong việc làm quan, thường uống rượu ngâm thi đàn địch, làm bê trễ sổ sách giấy tờ, khiến quan phủ khiển trách :
– Thân phụ của ông làm đến đại thần, còn ông thì không làm nổi chức Tri huyện.
Từ Thức than rằng : Ta không thể vì số lương 5 đấu gạo mà buộc mình vào lợi danh. Một mái chèo, một chiếc thuyền con, một bầu rươu, một túi thơ, cùng nước biếc non xanh, mới là chí hướng của ta.
Thế rồi Từ Thức xin từ quan, đến huyện Tống Sơn, cất một mái tranh bên cạnh hang núi để ở. Ông thường đem theo một tiểu đồng, cùng với cây đàn, bầu rượu, mấy quyển thơ của Đào Tiềm, đi đến các danh lam thắng cảnh, nơi nào thích chí thì uống rượu ngâm thơ hay dạo lên khúc đàn, tiêu dao vui thú.
Một hôm, Từ Thức dậy sớm, trông ra cửa biển Thần Phù, xa xa thấy một đám mây ngũ sắc đùn đùn kết lại như một đóa hoa sen từ dưới nước mọc lên. Từ thức thích chí và hiếu kỳ, liền chèo thuyền ra ngắm, thấy đó là trái núi rất đẹp.
Từ Thức lấy làm lạ, tự bảo rằng : Ta từng qua lại chốn nầy, không thấy trái núi nầy, nay bỗng nhiên nó mọc lên hồi nào không hay, ta phải lên xem cho kỹ mới được.
Nói rồi buộc thuyền bước lên, thấy vách đá cao vút, không có cách nào leo lên được. Tức cảnh sinh tình, Từ Thức liền đề lên vách núi bài thi Hán văn, tạm dịch như sau :
Triêu dương bóng rải khắp ngày xanh,
Hoa cỏ cười tươi đón rước mình.
Hái thuốc nào đâu sư kế suối,
Tìm nguồn duy có khách bên ghềnh.
Lang thang đất lạ đàn ba khúc,
Nênh nổi thuyền câu rượu một bình.
Bến võ chàng ngư nay thử hỏi,
Thôn nào chỉ hộ lối quanh quanh.
Đề thơ xong, còn đang ngơ ngẩn xuất thần, bỗng Từ Thức giựt mình thấy vách đá nứt hai, như làm ra một lối đi. Từ Thức liều mạng đi vào, đi mấy bước qua được chỗ ấy thì vách đá liền khép lại như cũ. Trước mặt đường đi tối om, Từ Thức sờ soạn lần đi tới, đi khá lâu thì có ánh sáng lọt vào, do cái hang bên trên thông xuống. Từ Thức bám vào dây leo lên, mỗi lúc một sáng thêm. Khi lên tới đỉnh núi thì bầu Trời sáng sủa, chung quanh là lầu đài rực rỡ, hoa cỏ lạ kỳ, mây xanh ráng đỏ. Từ Thức đang thắc mắc thì có hai cô gái áo xanh đi đến bảo : “ Lang quân nhà ta đến rồi kìa.” Nói xong đến mời Từ Thức :
– Phu nhân sai chúng tôi đến mời công tử vào nhà.
Từ Thức bước theo họ, đi quanh một bức tường gấm, vào cửa son, thấy một cung điện bằng bạc có bảng đề :
Điện Quỳnh Hư, gác Dao Quang. Chàng lên gác, gặp Bà Tiên áo trắng ngồi trên giường thất bảo. Bà mời Từ Thức ngồi, nói :
– Nầy Hiền sĩ ! Tánh hiếu kỳ đã đưa Hiền sĩ đến đây. Sự vui sướng trong chuyến đi chơi nầy sẽ làm cho Hiền sĩ thỏa nguyện, Hiền sĩ còn nhớ mối duyên gặp gỡ ?
Từ Thức thưa rằng :
– Tôi là dật sĩ ở Tống Sơn, một cánh buồm gió, một chiếc thuyền nan, phóng lãng giang hồ, thích đâu đến đó. Lần nầy đến đây, xem như cõi Tiên, song lòng trần mờ tối, chưa biết hư thực ra sao, xin Bà chỉ bảo.
– Hiền sĩ làm sao biết đặng, đây là núi Phù Lai, một động Tiên trong 36 động Tiên, bồng bềnh ngoài biển cả, dưới không có bám víu, tan hợp theo gió mây, như ngọn núi Bồng Lai, co duỗi theo sóng dợn. Tôi là Địa Tiên Ngụy Phu Nhân, ở Nam Nhạc, vì thấy Hiền sĩ là người cao nghĩa, sẵn lòng cứu giúp sự nguy khốn, nên mới phiền Hiền sĩ đến đây.
Bà Tiên cho lịnh, một Cô Tiên bước ra, Từ Thức liếc nhìn, nhớ trực lại nàng nầy là cô gái đã làm gãy cành mẫu đơn thuở nọ. Bà Tiên bảo :
– Đứa con gái của tôi đây là Giáng Hương, ngày trước gặp nạn khi xem hoa, được Hiền sĩ cứu gỡ, ơn ấy khó quên, nay tôi cho nó kết duyên với Hiền sĩ để đền ơn.
Ngay đêm ấy, Bà Tiên truyền mở tiệc Tân Hôn, gởi thiệp mời đến chư Tiên các động.
Quần Tiên đến, có người mặc áo gấm cỡi con tỳ lư từ Bắc xuống, người cỡi rồng từ Nam lên, người đi kiệu ngọc, người cỡi xe gió, đủ màu đủ vẻ. Yến tiệc đặt trên gác Dao Quang, có rèm ngọc trướng vàng, ghế lưu ly, mâm ngọc thạch, các món ăn đều kỳ lạ, mùi hương thơm nức, lại có rượu kim tương, mà cõi trần không có các thứ quí báu nầy. Bà Tiên mặc áo gấm trắng nói :
– Chúng tôi ở chốn nầy đặng 8 vạn năm. Nay Hiền sĩ ở cõi trần đến đây, không vì Tiên phàm cách trở, hương lửa ba sinh, tưởng cũng không phụ, đừng nên cho chuyện Thần Tiên là hoang đường.
Nàng Giáng Hương đi rót rượu mời chư Tiên. Nhạc trổi réo rắc, có đoàn trẻ nhỏ chia từng tớp, múa điệu lăng ba.
Một vị trong quần Tiên mặc áo xanh, có vẻ buồn, nói :
– Mối duyên cũ của cô em đây cũng là tốt đẹp, song nghĩ lại, cái giá băng ngọc của một vị Nữ Tiên mà đi kết duyên với một người cõi trần, vạn nhất tiếng tăm vỡ lỡ, thiên hạ chê cười, quần Tiên chúng ta không khỏi xấu lây.
Bà Tiên áo trắng đáp :
– Tôi nghe Tiên khá gặp chớ không tìm, đạo không tư mà tự đến. Những cuộc gặp gỡ hiếm lạ, đời nào mà không có, như Lộng Ngọc lấy Tiêu Sử, . . . Bao nhiêu chuyện cũ còn sờ sờ ra đó, nếu thế nầy bị chê cười, hỏi các việc trước thì sao ?
Từ Thức nói với Giáng Tiên :
– Thì ra tất cả cõi Trời đều có phối ngẫu cả. Trên Trời có Chức Nữ lấy Ngưu Lang. Các vị Tiên sống trong cảnh cô quạnh, lòng dục không nẩy sinh hay bị đè nén ?
Nàng Giáng Hương nghiêm mặt đáp :
– Những vị ấy có cái khí huyền nguyên, cái tính chân nhất, thân hầu cửa tía, tên ghi đền vàng, ở phủ Thanh Hư, chơi miền sung mạc, không cần gạn lòng mà lòng tự trong, không cần lấp dục mà dục vẫn lặng. Không như thiếp đây, 7 tình chưa sạch, trăm cảnh dễ sinh, thân ở phủ tía mà vương vấn duyên trần, chàng đừng nên thấy thiếp mà cho rằng quần Tiên đều như thế cả.
– Nếu vậy thì nàng còn thua các nàng Tiên kia xa lắm.
Hai người cùng cười.
Từ Thức ở trên cảnh Tiên, lấy sự ngâm vịnh làm thú vui. Chàng thường đề thơ trên bức bình phong trắng. Chàng không sao quên được nỗi nhớ quê hương. Chàng đã lên đây cưới vợ Tiên được một năm rồi, lòng nhớ nhà da diết.
Chàng nói với Giáng Tiên :
– Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, dám xin nàng cho tôi về thăm quê hương một chuyến, ý nàng nghĩ sao ?
Giáng Hương bùi ngùi, không nỡ dứt tình. Từ Thức cố đòi về thăm quê hương, Giáng Hương khóc và nói:
– Thiếp chẳng dám vì tình phu phụ mà ngăn cản chàng, nhưng cõi trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi, dù nay chàng về nhưng e cảnh tượng không giống như ngày trước nữa.
Giáng Hương thấy không thể ngăn cản Từ Thức về quê, nên thưa chuyện cùng Phu nhân. Bà cấp cho một cổ xe cẩm vân để đưa Từ Thức về trần, Giáng Hương trao cho chàng một bức thơ từ biệt, vừa nói vừa khóc :
– Khi chàng tới quê nhà thì mở bức thư nầy ra xem.
Từ Thức ngồi trên xe Tiên, phút chốc đã về tới quê nhà nơi cõi trần. Chiếc xe Tiên biến thành con chim loan bay trở về cõi Tiên. Từ Thức đi vào làng, khung cảnh hoàn toàn khác xưa. Chàng đem tên họ mình hỏi những người già cả, có một ông già nói :
– Thuở bé, tôi nghe nói ông cụ Tam đại nhà tôi có tên họ y như cậu vậy, đi vào núi rồi mất tích luôn, đến nay đã 80 năm rồi. Năm nay là năm thứ 5 niên hiệu Diên Ninh đời vua thứ 3 của nhà Lê. Nhà Trần không còn nữa.
Từ Thức hối hận bùi ngùi, muốn trở về cõi Tiên cùng Giáng Hương, mà chiếc xe Tiên đâu còn nữa, chợt nhớ tới bức thơ của Giáng Hương, chàng liền mở ra đọc : “ Kết lứa phượng trong mây, duyên xưa nay đã hết, khiến lòng chàng nhớ quê, tìm non Tiên trên bể, dịp khác nữa còn đâu !”
Đó là bức thơ vĩnh biệt. Chàng quá thất vọng, đi vào núi Hoành Sơn, và mất tích luôn trong đó.