Ở nước Ấn Độ thời xưa, có một ông họ Trầm, không biết ông sanh năm nào và quê quán ở đâu, nhưng ông hưởng được gia tài rất lớn, sống cuộc đời giàu sang phú quí của một người đại phú. Ông thường đi chơi đó đây, kết giao bạn bè, và ông rất thích đọc sách.
Một hôm ông ngồi đọc sách, tới chỗ nói về Quân, Sư, Phụ, ông ngẫm nghĩ đây là 3 bực có quyền thế rất lớn trong xã hội và gia đình.
Suy nghĩ như thế, ông họ Trầm chọn nghiệp làm thầy. Ông lấy tiền ra cất trường học, qui tụ tất cả trẻ em trong làng đến trường học tâp, không thâu tiền học phí, lại còn phát cho tập vở viết mực, phát cho tiền ăn quà sáng và phát quần áo cho đứa nào thiếu thốn áo quần. Ông đứng ra làm thầy giáo dạy các trẻ học tập.
Việc làm từ thiện của ông Trầm được dân làng mến mộ, tiếng tốt đồn vang khắp huyện, phủ. Mọi người đều cho con em đến trường của ông học tập rất đông.
Thấy việc làm nghĩa rất đáng khích lệ. Ông dạy bảo học trò điều gì thì học trò răm rắp nghe theo. Bất cứ gặp ông đi đâu, bọn học trò đều khoanh tay cúi đầu chào rất lễ phép. Cả cha mẹ của các học trò gặp ông cũng rất niềm nở. Ông Trầm cảm thấy rất khoan khoái trong lòng. Giữa ông và đám trẻ càng ngày kết chặt tình thân ái, ông xem đám trẻ như là con ruột của ông. Các viên chức trong huyện và trong phủ đều xem ông Trầm như là cha đỡ đầu cho các con cháu của họ.
Nếp sống cứ dần dần trôi qua như thế, ông đã xử dụng hết phân nửa gia tài vào việc nhơn nghĩa.
Tiếng tốt đồn vang, quan phủ rất chú ý. Nhân một buổi lễ hội trong làng, quan phủ được mời tới tham dự. Quan phủ thấy dân làng và đám trẻ đối với ông Trầm rất thân thiết, chẳng sai lời đồn đãi.
Qua mấy hôm sau, quan Phủ cho mời ông Trầm lên phủ nói chuyện. Quan phủ hỏi :
– Tôi nghe tiếng đồn về việc nhơn nghĩa của ông, và đã mục kích tình thân thiết của ông đối với bọn trẻ và mọi người, nên tôi mến lắm. Tôi mời ông đến đây là để biết nhau và cũng có điều xin ông chỉ ý.
Ông Trầm đáp :
– Quan phủ nói quá lời, tôi đâu có gì đáng để chỉ ý đâu.
– Tôi từ làm quan đến nay có đến 30 năm, tôi thấy uy quyền tôi có đủ, nhưng tôi cảm thấy tôi đang thiếu cái mà ông đang có. Tôi không nói dối ông đâu, từ 30 năm qua, tôi đi đâu cũng được mọi người tôn kính, nhưng tôi thiếu cái tình thân thiết với dân chúng. Cái đó ông đang có, còn tôi thì không.
– Quan phủ là quan cai trị dân chúng và gìn giữ luật nước nên phải nghiêm minh, thanh liêm, cương trực, cho dân sợ mà tuân theo, nên dân chỉ kính trọng mà không thân thiết. Còn tôi không phải là quan, nên không có quyền cai trị. Hằng ngày tôi gặp dân chúng, tôi chỉ có sự thân thiết. Vì thế, cái mà quan có thì tôi không có, còn cái tôi có thì quan không có.
– Ông luận rất chí lý. Nhưng tôi muốn làm thế nào để có sự thân thiết với dân, giống như ông Trầm.
Ông Trầm thuật cho quan Phủ nghe các việc từ đầu đến cuối, ông đã hy sinh phân nửa gia tài để làm việc nghĩa ấy.
– Nhưng bây giờ tôi không có gia sản lớn như ông Trầm thì làm sao tôi có thể làm được các việc nghĩa như ông ?
– Nếu quan phủ không e ngại, tôi sẵn sàng nhường phân nửa gia tài còn lại của tôi cho quan phủ làm việc nghĩa.
Quan phủ rất ngạc nhiên, ông Trầm nói tiếp :
– Tôi dự định dùng phân nửa gia tài còn lại để làm việc nghĩa thôi, nếu giao cho quan phủ dùng làm việc nghĩa thì cũng như tôi dùng, có gì khác đâu ?
Thế là giữa ông Trầm và Quan phủ đồng ý với nhau, ông Trầm làm tờ giấy chuyển nhượng tài sản cho Quan phủ.
Từ đó, Quan phủ thay ông Trầm trợ giúp dân chúng, chăm lo các trẻ học tập. Dân chúng bàn tán với nhau : Chúng ta có vốn liếng làm ăn, thoát cảnh nghèo đói, con cái khỏi dốt nát là nhờ sự giúp đỡ của ông Trầm và của quan lớn nơi phủ. Danh thơm và tiếng tốt của ông Trầm và của Quan lớn từ đó gắn liền nhau. Hễ gọi Ngài Trầm thì Quan lớn kèm theo. Đám học trò mỗi lần gặp ông Trầm hay Quan phủ đều khoanh tay cúi đầu lễ phép thưa : “ Ngài Trầm Quan lớn đi chơi”, và mỗi lần như vậy chúng đều được thưởng quà.
Cho đến một hôm, ông Trầm hết sạch tiền của, ông Trầm lặng lẽ ra đi biệt tích, không ai biết ông Trầm đi đâu.
Ba năm sau, có một người làm công, mình mặc áo vá, chân đi đất, đầu chích khăn trắng, đến trước cửa huyện, xin vào yết kiến quan huyện. Người lính gác cổng nhìn ông một hồi rồi há hốc kêu to : “Ngài Trầm Quan lớn”. Tên lính gần đó cũng chạy đến gọi Ông Trầm. Thế là tin tức truyền đi rất nhanh, dân chúng đều biết Ông Trầm trở về. Quan phủ cũng hay tin, vội đến rước Ông Trầm vào phủ, gặp nhau vui mừng không xiết. Ông Trầm chậm rãi thưa chuyện :
– Sau khi của tiền vừa hết, tôi lén trốn Quan phủ và dân chúng, tôi đi về hướng Tây, trôi nổi các xứ, vào làm công cho một nông trại chăn nuôi bò sữa lớn. Trong một chuyến đi buôn ngang qua huyện nầy, ông chủ trang trại bị bắt vì tội buôn vàng trái phép, trá hình dưới việc trao đổi bò. Hay tin nầy, bà chủ sai tôi đến đây dọ hỏi tin tức.
Quan huyện nói :
– Đúng rồi, huyện tôi vừa bắt một người buôn vàng trá hình, ông ta cung khai nhìn nhận việc làm trái phép đó.
– Nếu ông chủ của tôi cung khai nhìn nhận tội lỗi thì cứ theo lẽ công bình của luật pháp mà xét xử, tôi không dám cầu xin tha tội. Còn trên danh nghĩa một vị quan, ông cũng không thể vị tình tôi mà tha tội cho ông ấy. Chúng ta từ lâu đã lập chí thanh liêm, giữ gìn phép nước và giúp đỡ dân chúng.
Trong khi các ông nói chuyện thì dân chúng hay tin ông Trầm trở về nên tụ tập khá đông trước huyện đường. Họ lại được nghe nỗi lòng của ông Trầm, họ liền cử một vị bô lão vào yết kiến quan huyện và quan phủ. Vị bô lão nói :
– Bẩm quý quan, ông phú thương có tội mà biết nhận tội, ấy là người tự trọng. Ông Trầm thấy người phạm tội không dám xin tha, sợ qua luật pháp, ấy là đáng kính. Quan lớn biết giữ nghiêm phép nước và không vị tình riêng mà tha tội, ấy là đáng tôn. Làm việc mà đáng kính đáng tôn là việc phải. Chúng tôi thay mặt cho dân chúng trong huyện xin có ý kiến : “Luật pháp là để áp dụng cho ai, chớ đối với người lương thiện có tấm lòng dào dạt thương yêu thì không áp dụng luật pháp răn trị nữa. Chúng tôi xin lãnh tội và tha cho vị phú thương.”
Thế là ông phú thương được dân chúng bảo lãnh và được quan huyện tha tội. Tình thương đã đem thay luật pháp.
Khi ông phú thương trở về xứ, ông thuật chuyện cho gia đình và mọi người nghe. Ông rất cảm động trước tình cảm của dân chúng đối với ông Trầm, nên ông tình nguyện chia đôi gia tài cho ông Trầm để ông Trầm làm việc nghĩa.
Câu chuyện nầy được truyền tụng khắp các nước nhỏ ở miền Tây Ấn Độ.