Lão Tử là chơn linh của Đức Thái Thượng Đạo Tổ (hay Thái Thượng Đạo Quân) giáng trần. Việc giáng sanh của Ngài rất huyền diệu phi thường.
Theo truyền thuyết kể lại, vào đời vua Bàn Canh nhà Thương (1461 trước Tây lịch), có một nàng con gái gọi là Ngọc Nữ mới vừa 8 tuổi, con của một gia đình đạo đức, ra chơi sau vườn, thấy trên cây Lý có một trái chín đỏ ngon, liền hái ăn. Ăn xong, cô cảm thấy mỏi mệt và có thai. Người cha thấy sự lạ, liền toán quẻ Âm Dương thì biết có một Đại Tiên giáng sanh vào lòng Ngọc Nữ, nên không buồn phiền chi cả, lo nuôi con gái rất kỹ. Ngọc Nữ chịu mang thai như vậy đến già mà không đẻ. Đến năm Ngọc Nữ 80 tuổi, nghĩa là mang thai 72 năm, lúc đó là đến đời vua Võ Đinh (1324 trước Tây lịch) nhà Thương mới lên ngôi, Ngọc Nữ thấy đêm trăng tỏ rạng, bèn đi dạo nơi vườn, khi đi ngang qua cội cây Lý ngày xưa thì đứa con từ trong bụng theo nách nhảy ra ngoài. Ngọc Nữ kinh hãi coi lại thấy nách mình liền lại như thường.
Đứa con nhảy ra, đã ở trong bụng mẹ ngót 72 năm, nên đầu bạc trắng, do đó gọi là Lão Tử nghĩa là con già. Lúc đó là giờ Sửu, ngày 15 tháng 2 âm lịch, năm Canh Thìn. Lão Tử chỉ cây Lý bảo rằng đó là họ của mình. Ngài xưng hiệu là Lão Đam, tự Bá Đương, lại mỗi tai có 3 lỗ nên cũng gọi là Lý Nhĩ.
Ngài có miệng rộng, răng thưa, thiên đình cao, râu tốt, mắt vắn, tai dài, sóng mũi cao lớn như chẻ hai, trán có đường chỉ như 3 chữ Thiên (Tam Thiên).
Cội cây Lý, nơi giáng sanh của Lão Tử ở tại xóm Khúc Nhơn, làng Lại, huyện Khổ, nước Sở, nay thuộc tỉnh Hồ Nam.
Do đó trong Kinh Tiên giáo có câu :
“Nhị ngoạt thập ngũ, Phân tánh giáng sanh.”
(Ngày rằm tháng 2, phân tánh giáng sanh xuống cõi trần)
Đức Lão Tử có giáng cơ cho biết năm sanh của Ngài trong 4 câu thơ sau đây :
LÝ đào mầm tược tượng long lân,
LÃO luyện đơn thành nhị xác thân.
TỬ phủ ngồi lo tu nấu thuốc,
GIÁNG sanh Thương đợi Võ Đinh quân.
Khoán thủ 4 chữ : Lý Lão Tử Giáng. Câu chót có nghĩa là : Giáng sanh vào thời nhà Thương, đợi vua Võ Đinh.
Qua hết thời nhà Thương (Ân), tiếp theo đến thời nhà Châu, đời vua Thành Vương (1115 trước Tây lịch), Lão Tử có ra làm quan Trụ Hạ Sử tại Tàng Thư Viện nhà Châu để có cơ hội nghiên cứu Thái Cực Đồ. Sau đó Ngài từ chức đi dạo nước Thiên Trúc ở Tây phương.
(Đoạn nầy, xin xem chi tiết nơi Điển tích 11 : Từ Giáp)
Đến đời vua Châu Khương Vương nối tiếp vua Thành Vương, Lão Tử trở về, đặng 3 năm thì Ngài ngồi xe trắng trâu xanh có Từ Giáp đánh xe đi giáo đạo ở Tây Vực. Khi đến ải Hàm Cốc, quan Doãn giữ ải tên là Hỷ (nên thường gọi là Doãn Hỷ) biết Lão Tử là bực Thánh nhơn, nên ra nghinh tiếp trọng thể, tôn Lão Tử làm Thầy xin học đạo.
Nguyên ông quan Doãn Hỷ là Chơn linh của Nguơn Thủy Thiên Tôn giáng sanh. Khi bà mẹ có nghén ông thì nằm chiêm bao thấy một đoạn lụa đỏ từ Trời sa xuống quấn quanh mình, sau sanh ra ông Doãn Hỷ thì sen mọc quanh nhà trổ bông. Ông Doãn Hỷ lớn lên, con mắt sáng ngời như sao, râu dài như Lão Tử, biết nghề coi Thiên văn hay lắm. Khi làm quan giữ ải Hàm Cốc, nhìn lên bầu Trời thấy một vầng mây tím đỏ bay ngang từ Đông qua Tây, Ông biết có một vị Đại Thánh sắp đi qua ải. Ông chuẩn bị chu đáo chờ nghinh tiếp.
Xảy thấy Đức Lão Tử đến, cốt cách phi phàm, ngồi trên xe trắng trâu xanh, đệ tử là Từ Giáp đánh xe tới ải. Doãn Hỷ đón lại, rước Lão Tử vào nhà, làm lễ xin Lão Tử truyền đạo. Do vậy, trong Kinh Tiên giáo có câu :
“ Tử khí đông lai, Quảng truyền Đạo Đức.”
(Vầng khí mây đỏ tím từ hướng Đông bay tới, rộng truyền Kinh Đạo Đức)
Doãn Hỷ có lòng thành khẩn, nên Đức Lão Tử nhận làm môn đệ, ở lại ải Hàm Cốc ngót 3 tháng để dạy Doãn Hỷ học đạo Tiên. Khi Lão Tử chuẩn bị ra đi thì Doãn Hỷ mới bạch thầy cho biết danh tánh, và xin tình nguyện từ quan theo thầy. Đức Lão Tử đáp :
– Ta sanh ra đã nhiều đời, tên họ biết bao nhiêu mà kể. Hiện thời người đời gọi ta là Lão Tử. Ngươi có lòng muốn theo ta, song mới tu luyện còn non, chưa từng biến hóa thần thông thì theo ta chưa đặng. Ngươi cứ tu hành theo phép cho lâu, thì sau cũng được như ta, đi đâu cũng đặng.
Nói rồi, Lão Tử đưa cho Doãn Hỷ một cuốn Kinh gọi là ĐẠO ĐỨC KINH, gồm 5363 chữ, dặn rằng :
– Ngươi cứ theo sách nầy mà học, tu đúng phép đặng 1000 ngày, rồi đi qua nước Thục, tìm ta ở chợ Thanh Dương.
Nói rồi, Đức Lão Tử lên xe trắng trâu xanh, hiện hào quang đi về hướng Tây mất dạng.
Doãn Hỷ ngó theo thầy lạy tạ. Rồi cứ theo kinh mà tu, lâu ngày trở nên thông huệ, tự viết ra một cuốn kinh gồm 36 bài, gọi là Kinh Tây Thăng.
Gần đến kỳ hạn, Doãn Hỷ sửa soạn đi qua nước Thục tìm thầy. Khi đến nước Thục, Doãn Hỷ hỏi thăm chợ Thanh Dương ở đâu thì không ai biết cả.
Đức Lão Tử đã trở về Thiên cung, rồi lại xuống đầu thai vào nhà họ Lý ở nước Thục, là một nhà đạo đức hiền lương. Khi vợ họ Lý sanh đứa bé trai được ít tháng thì có một con dê xanh (Thanh Dương) đến chơi giỡn với bé. (Đó là Lão Tử dặn con Thanh Dương ở Thiên cung hiện xuống).
Ngày kia con dê xanh chạy mất, cậu bé khóc hoài. Họ Lý phải sai đày tớ đi khắp nơi tìm kiếm, bắt gặp được Thanh Dương, liền dẫn về, đi ngang qua chợ. Doãn Hỷ đang đi tìm chợ Thanh Dương, chợt thấy một người dẫn con dê xanh đi qua chợ, nghĩ rằng chắc thầy mình đang ở gần đây.
Nghĩ vậy, Doãn Hỷ chạy theo người dẫn dê xanh hỏi :
– Chú dắt con dê nầy đi đâu vậy ?
Người đày tớ đáp :
– Chủ tôi có sanh một cậu trai, cách ít tháng có con dê nầy đến chơi giỡn với cậu nhỏ. Bữa kia nó đi mất, cậu nhỏ cứ khóc hoài. Chủ sai tôi đi tìm kiếm cho được dắt về.
Doãn Hỷ đi theo người đày tớ về đến nhà thì bảo :
– Chú vào thưa với cậu nhỏ là có Doãn Hỷ tới tìm.
Anh đày tớ cười nghĩ thầm : Cậu nhỏ chưa giáp thôi nôi, biết chi mà thưa với gởi. Nhưng anh ta cũng vào nói với cậu nhỏ : – Có Doãn Hỷ tìm cậu.
Cậu bé nghe nói thế, liền ngồi dậy đáp :
– Doãn Hỷ y lời không đến trễ.
Kế Doãn Hỷ bước vào.Cậu bé bỗng vùng lớn lên như người thường, ngồi trên tòa sen, hào quang sáng lòa. Cả nhà đều kinh hãi. Người ấy nói :
– Ta là Lão Tử đầu thai một lần nữa.
Doãn Hỷ mừng rỡ đến lạy thầy. Lão Tử nói :
– Khi trước ta không dắt ngươi theo là vì sợ ngươi tu không bền chí. Nay ngươi tu luyện kỹ, hào quang ẩn ẩn muốn lòa.
Nói rồi Lão Tử niệm chú, truyền Thần Tiên đến hầu, phong Doãn Hỷ phục chức Nguơn Thủy Chưởng Giáo, cai trị 8 vạn Thần Tiên, lại truyền phép tu luyện cho nhà họ Lý, cả nhà đều tu thành Tiên hết thảy.
Về sau, đến đời vua Châu Kỉnh Vương, Đức Khổng Tử qua kinh đô nhà Châu học Lễ, nhân nghe có Đức Lão Tử ở đó nên đến xin gặp mặt để hỏi Đức Lão Tử về Lễ.
Đức Lão Tử nói :
– Những người Ông nói đó đều tan xương nát thịt cả rồi, chỉ còn lời nói của họ mà thôi. Vả lại, người quân tử gặp thời thì đi xe ngựa nghênh ngang, không gặp thời thì tay vịn nón lá mà đi chơn không. Tôi nghe nói : Người buôn giỏi thì biết giấu của báu, khiến người ta thấy dường như không có hàng hóa; còn người quân tử có đức tốt thì diện mạo dường như ngu dại. Ông nên bỏ cái khí kiêu ngạo cùng cái lòng ham muốn nhiều, cái vẻ hâm hở cùng cái chí tham lam đi. Những cái ấy đều không ích gì cho Ông. Tôi chỉ bảo Ông có thế thôi.
Đến khi Đức Khổng Tử kiếu từ ra về, Đức Lão Tử nói :
– Tôi nghe nói : Người giàu sang lấy tiền bạc mà tiễn nhau, người nhân đức dùng lời nói để tiễn nhau. Tôi không thể làm người giàu sang, nhưng trộm lấy tiếng là người nhân đức, xin có lời nầy tiễn Ông : Kẻ thông minh và sâu sắc là gần cái chết vì họ khen chê người ta một cách đúng đắn. Kẻ giỏi biện luận, đầu óc sâu rộng làm nguy hiểm thân mình vì họ nêu cái xấu của người khác. Kẻ làm con không có cách gì để giữ mình, kẻ làm tôi không có cách gì để giữ mình.
Đến khi Đức Khổng Tử trở về, Ngài bảo các học trò :
“ Con chim ta biết nó biết bay, con cá ta biết nó biết lội, con thú ta biết nó biết chạy. Đối với loài chạy thì ta có thể dùng lưới để săn, đối với loài lội thì ta có thể dùng câu để bắt, đối với loài bay thì ta có thể dùng tên để bắn, đến như con rồng cỡi mây cỡi gió lên Trời, ta không sao biết đặng. Hôm nay gặp Lão Tử, ông ta có lẽ là con rồng chăng ?”
Đến đời nhà Tần, Đức Lão Tử có hiện xuống xưng là Hà Thượng Công, dạy An Kỳ học đạo.
Đến thời nhà Hán vua Hán Văn Đế, Đức Lão Tử hiện xuống trần xưng hiệu là Quảng Thành Tử. Vua Hán Văn Đế rất mộ đạo, sai sứ rước về triều. Quảng Thành Tử nói :
– Lẽ nào không đích thân tới rước mà sai sứ giả ?
Sứ giả về triều tâu lại, Hán Văn Đế đến gặp Quảng Thành Tử phán :
– Thầy tuy có đạo mặc dầu song cũng là dân của Trẫm, sao không chịu sụt lại một chút mà lại làm kiêu như thế ? Hay là Trẫm không làm họa phước cho thầy đặng chăng ?
Quảng Thành Tử nghe vua nói như thế, liền dùng thần thông, cất mình bay lên cao độ 100 thước, ngồi trên thinh không, ngó xuống nói với vua Văn Đế rằng :
– Nay trên chẳng tới Trời, dưới chẳng tới đất, Bệ hạ làm họa phước cho ta sao đặng.
Vua Văn Đế biết lỗi, liền xuống xe làm lễ, xin làm học trò theo học đạo. Quảng Thành Tử đưa vua một cuốn kinh, bảo học theo đó mà tu luyện.
Qua đời vua Hán Thành Đế, Đức Lão Tử lại giáng trần tại suối Khúc Dương, truyền đạo cho Vu Kiết.
Đời vua Hớn An Đế, Đức Lão Tử truyền cuốn kinh Tội Phước Tân Khoa cho Lưu Tiên.
Đời vua Hán Trinh Đế, Đức Lão Tử xuống truyền kinh Bắc Đẩu cho Trương Thiên Sư.
Đời vua Hán Hoàn Đế, Đức Lão Tử xuống núi Thiên Thai, truyền kinh Bác Động cho Vạn Niên Tiên sinh.
Đời vua Hán Linh Đế, Đức Lão Tử xuống truyền kinh cho Trương Thiên Sư một lần nữa.
Qua thời nhà Đường, Đức Lão Tử truyền đạo cho Đường Công tại núi Dương Giác.
Đời Đường Cao Tổ, có người ở Phổ Châu tên hiệu là Thiện Hành, đi ngang núi Dương Giác, gặp một ông già mặc áo trắng, nói rằng : Ngươi về tâu với Đường Thiên Tử, Thái Thượng Lão Quân là ông nội.
Đường Cao Tổ hay tin, lập miếu thờ tại núi Dương Giác. Về sau, Đường Cao Tông tôn Đức Lão Tử là Huyền Nguơn Hoàng Đế.
Hồi thời nhà Châu, Đức Lão Tử có truyền đạo cho Ông Lý Ngưng Dương tu hành đắc đạo thành Tiên, hiệu là Lý Thiết Quả, đứng đầu Bát Tiên.
Tóm lại, từ thời tạo dựng Trời Đất có nhơn loại đến giờ, không có thời nào mà Đức Thái Thượng Đạo Tổ không giáng trần để độ những người có căn lành tu hành đắc đạo.
Ngài do khí Tiên Thiên hóa sanh nên Ngài có pháp thuật vô biên, biến hóa vô cùng, khi hiện xuống cõi trần, khi trở lại Thiên cung, khi đầu thai xuống trần để dễ bề truyền đạo.
Ngài có nhiều danh hiệu như : Thái Thượng Đạo Tổ, Thái Thượng Đạo Quân, Thái Thượng Lão Quân. Lão Tử là một kiếp giáng sanh của Ngài.
Trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Thái Thượng Đạo Tổ không giáng sanh xuống cõi trần nữa, Ngài chỉ dùng huyền diệu Tiên gia là cơ bút, giáng cơ dạy đạo mà thôi. Ngài giao cho Đức Đại Tiên Trưởng Lý Thái Bạch thay mặt Ngài cầm quyền Tiên giáo, làm Nhứt Trấn Oai Nghiêm điều đình Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.