91 Điển Tích Hành Lang Báo Ân Từ

Truyện Tây Du


Mục Lục

Mở Đầu

Tây Du Ký tức là Truyện Tây Du, là một bộ truyện thần thoại của người Tàu, căn cứ trên sự kiện lịch sử có thật là Đại sư Trần huyền Trang đời nhà Đường, pháp danh là Tam Tạng, từ Trung hoa đi theo đường bộ đến nước Ấn Độ để thỉnh Tam Tạng Kinh của Phật giáo đem về nước Trung hoa truyền bá đạo Phật.

Truyện nầy do Ông Ngô thừa Ân viết ra theo cốt truyện “Tây Du Ký của Dương chí Hòa”, có chỉnh đốn và thêm thắt nhiều tình tiết dí dỏm, khéo léo hấp dẫn độc giả.

Ngô thừa Ân là một học giả vào thời nhà Minh bên Tàu, tên tự là Nhữ Trung, hiệu là Xạ Dương Sơn nhân, sanh khoảng năm 1500 tại phủ Hoài An huyện Sơn Dương (nay thuộc tỉnh Giang Tô), mất năm 1582, đời vua Thần Tông nhà Minh, niên hiệu Vạn Lịch thứ 10.

Ngô thừa Ân viết Tây Du Ký vào những năm cuối đời của Ông. Có lẽ Ông là một tín đồ rất sùng tín Phật giáo, nên trong nội dung Truyện Tây Du, Ông quá đề cao Phật giáo, mà lại hạ thấp giá trị của Tiên giáo và Đức Thượng Đế.

Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đức Thái Thượng Lão Quân, Đức Thái Bạch Kim Tinh và các vị Tiên, gần như bị ngòi bút của tác giả Ngô thừa Ân phàm hóa, không đủ tài phép để trị một Tề Thiên Đại Thánh làm loạn Thiên cung, bị Tề Thiên đánh cho chạy dài, phải cầu cứu Đức Phật Thích Ca ở cõi Cực Lạc Thế giới. Đức Phật sang mới có pháp thuật cao để trị Tề Thiên Đại Thánh, bắt Tề Thiên đè dưới Ngũ Hành Sơn 500 năm. Sau đó Đức Quan Âm Bồ Tát dùng niền Kim Cô giao cho Tam Tạng niền đầu Tề Thiên thì mới điều khiển được Tề Thiên như ý muốn.

Tây Du Ký của Ngô thừa Ân được nhiều nhà văn VN dịch ra quốc văn, gọi là Tây Du Ký Diễn Nghĩa, gồm 100 Hồi, nhưng Hội Thánh chỉ chọn 9 Hồi tượng trưng, vẽ 9 bức tranh nơi Hành lang Báo Ân Từ (Tòa Thánh Tây Ninh), từ cầu thang tròn bên Nữ phái, vòng qua phía trước, rồi đến cầu thang tròn bên Nam phái, kể ra sau đây:

Hồi 1 : Hoa Quả sơn trứng đá nở Hầu Vương : Bức tranh I.
Hồi 4 : Hầu Vương xưng Tề Thiên Đại Thánh : Bức tranh II.
Hồi 15 : Tiểu long hóa Bạch mã . . . . . . . . . . : Bức tranh III.
Hồi 16 : Yêu tinh Hắc Phong trộm cà sa. . . . : Bức tranh IV.
Hồi 14 : Tam Tạng cứu Tề Thiên thoát khỏi Núi Ngũ Hành và thâu làm đồ đệ. . . : Bức tranh V.
Hồi 19 : Tam Tạng thâu Trư Bát Giái . . . . . . : Bức tranh VI.
Hồi 22 : Tam Tạng thâu Sa Tăng . . . . . . . . . : Bức tranh VII.
Hồi 41 : Hồng Hài Nhi đốt Tề Thiên . . . . . . : Bức tranh VIII.
Hồi 48 : Kim Ngư Tinh bắt Tam Tạng . . . . . : Bức tranh IX.


1. Hoa Quả Sơn trứng đá nở Hầu Vương

Nơi Đông Thắng Thần Châu, nước Ngao Lai, có một ngọn núi cao mọc nhiều thứ hoa quả lạ, gọi là Hoa Quả Sơn, đứng sừng sững giữa Trời, chung quanh là biển cả. Trên núi ấy có một tảng đá rất lớn được tạo ra từ lúc khai Thiên lập Địa, trên mặt có 9 lỗ thông Thiên, bốn bên có hang thông ra rừng rậm. Tảng đá ấy hứng lấy 2 khí Âm Dương của 2 vầng Nhựt Nguyệt, lần lần tụ tinh, nứt ra một trứng đá lớn, lâu năm trứng đá tượng hình, rồi gặp một trận gió lớn, nở ra một con khỉ giống hệt hình người, tay chân rất lanh lẹ, trí não thông minh, lại có đôi mắt sáng phát ra 2 luồng hào quang chiếu đến tận Thiên cung.

Con khỉ ấy sống trong rừng núi, đói ăn hoa quả, khát uống nước suối, lần lần lớn lên nhảy nhót chơi đùa, kết bạn cùng loài khỉ vượn, thân mật với lũ hươu nai.

Một hôm khí trời nóng bức, khỉ đá cùng lũ khỉ rủ nhau xuống suối tắm mát, rồi men theo bờ suối đi lên nguồn, thấy một thác nước trắng xóa. Bọn khỉ vỗ tay thú vị, nói:

– Nước sâu lắm ! Chỗ nầy chắc ăn thông với biển lớn.

Rồi bọn khỉ lại nói:

– Nếu ai chui được vào làn nước để tìm trong đó có gì mà không bị xây xát mình mẩy thì chúng ta tôn lên làm vua.

Nói xong, chúng rủ nhau hú vang 3 tiếng lớn.

Khỉ đá nhảy ra nói lớn: – Tôi xin đi.

Khỉ đá nhắm mắt, vươn mình nhảy vào giữa thác nước, chui qua khỏi làn nước thì thấy có một cái cầu bằng sắt, dưới cầu nước chảy vào các lỗ đá. Khỉ đá đi qua cầu, thấy dường như có nhà cửa, liền rón rén nhảy vào, thấy một ngôi nhà đá ở phía dưới các thạch nhũ trong động đá, có bếp, có giường bằng đá, chậu đá, chén đá tuyệt đẹp, trước nhà có cây mai, cây trúc, cây tùng. Xem xét hồi lâu mà không thấy có bóng người, khỉ đá trở ra cầu, quan sát 2 bên thấy tấm bảng đá, trên đó có khắc 6 chữ: HOA QUẢ SƠN THỦY LIÊM ĐỘNG.

Nó mừng quá, vội nhắm mắt nhảy ra khỏi làn nước, lội vào bờ, cười khanh khách, nói với lũ khỉ:

– Gặp may rồi ! Trong đó không có nước, có một cây cầu sắt, bên trong là một cơ nghiệp Trời xây dựng nên.

Lũ khỉ hỏi: – Sao biết đó là một cơ nghiệp ?

Khỉ đá đáp:

– Dòng nước nầy chảy xói dưới chân cầu, chảy ngược thì lấp cửa cầu. Bên cầu có cây cối hoa cỏ, trong đó có một tòa nhà đá rất rộng, có giường đá, chén đá, chậu đá, ghế đá, bếp đá. Bên ngoài có tấm bảng đá đề là: Hoa Quả Sơn Thủy Liêm Động. Thật là một nơi kín đáo để bọn ta yên thân. Chúng ta mau vào đó ở, tránh được mưa nắng và khí trời nóng lạnh.

Lũ khỉ nghe xong rất thích chí, đồng nói:

– Anh đi trước dẫn đường, chúng tôi theo sau.

Khỉ đá liền nhảy xuống và kêu to: Tất cả theo ta mau.

Mấy con khỉ bạo dạn liền nhảy theo, mấy con nhút nhát thì co đầu rút cổ, la hét một hồi rồi cũng nhảy xuống lội vào. Lần lượt bọn chúng đều nhảy qua làn nước và lên cầu vào động. Chúng tung tăng phá phách vui vẻ đến khi mệt mới thôi.

Lúc đó khỉ đá mới kêu lũ khỉ lại nói:

– Lúc còn ở bên ngoài, chúng ta có hứa nhau, ai xuống trước sẽ được tôn làm vua, bây giờ lại quên sao ?

Lũ khỉ nhớ lại, vội vàng bước đến quì trước mặt khỉ đá, tôn lên làm Đại Vương, cả bọn hô to: “Đại Vương vạn tuế ! “

Khỉ đá khoái chí cười nói:

– Từ nay ta làm vua lấy hiệu là “Mỹ Hầu Vương”. Ta phong cho vượn và khỉ đột làm Tả Hữu Thừa Tướng.

Rồi Mỹ Hầu Vương chỉ huy đàn khỉ vượn, sắp thành đội ngũ quân lính, tướng tá, phân ra ban bộ trật tự rõ ràng. Từ đây đàn khỉ sống rất vui vẻ an nhàn thích thú.

Một hôm, Mỹ Hầu Vương buồn rầu nói:

– Ta đang nghĩ đến ngày mai, chúng ta sẽ già rồi chết, làm sao giữ mãi được những ngày vui sướng như thế nầy ?

Một con vượn già đứng dậy nói:

– Đại Vương lo xa như vậy là phải lắm ! Chỉ có 3 bậc là Phật, Tiên, Thánh thì mới khỏi chết, trường sanh bất lão. Ba bậc ấy hiện đang ở non Tiên.

Hầu Vương có được một tia hy vọng, liền nói:

– Ngày mai, ta sẽ từ giã các ngươi, thả bước phiêu lưu đi tìm non Tiên để học phép trường sanh bất lão.


2. Hầu Vương xưng Tề Thiên Đại Thánh

Hầu Vương dùng bè đi xuyên qua biển lớn, đến được Nam Thiệm Bộ Châu, lưu lạc trong 9 năm mà chẳng tìm được nơi nào có Thần Tiên, lòng rất buồn rầu. Hầu Vương tìm cách đóng một chiếc bè khác để vượt biển qua xứ khác tìm kiếm. Hầu Vương đến được Tây Ngưu Hóa Châu, lên bờ, thấy một ngọn núi cao chớn chở, cảnh vật thật là xinh đẹp, lòng mừng hy vọng nơi đây là chỗ ở của Thần Tiên.

Hầu Vương tìm đường lên núi, xảy thấy một ông tiều liền hỏi thăm, biết được ở trên núi có Ông Tiên Bồ Đề Tổ Sư, có thâu nhận học trò. Hầu Vương mừng rỡ leo lên, thấy cửa động có tấm bảng đề: “Linh Đài Phương Thốn Sơn, Tà Nguyệt Tam Tinh Động”. Lát sau có một đồng tử mở cửa động đi ra. Hầu Vương đến chào và xin vào động gặp Tổ Sư.

Tổ Sư biết trước việc Hầu Vương đến xin học đạo, nên cho đồng tử ra đón dẫn vào. Hầu Vương lạy Tổ Sư và xin làm đồ đệ. Tổ Sư thâu nhận, đặt cho pháp danh là Tôn Ngộ Không.

Từ đó, Ngộ Không theo Tổ Sư học đạo, được 10 năm thì pháp thuật tinh thông, võ nghệ cao cường, biết được Thất thập nhị huyền công (72 phép biến hoá), lại học được phép Cân Đẩu Vân, một nhảy trên mây đi được 18 ngàn dặm.

Học đạo vừa xong thì Ngộ Không bị Tổ Sư đuổi về Hoa Quả Sơn, lại cấm nhặt Ngộ Không không được xưng là học trò của Tổ Sư. (vì Tổ Sư biết sau nầy Ngộ Không sẽ làm loạn Thiên cung, tội rất nặng, Tổ Sư sợ bị tội liên can).

Hầu Vương khóc lóc, lạy tạ Tổ Sư, từ giã các bạn đồng môn, rồi ra khỏi động, dùng phép cân đẩu vân, giây lát thì tới Hoa Quả Sơn, nhảy vào Thủy Liêm Động, lên tiếng kêu gọi bọn khỉ. Lũ khỉ chạy ra mừng rỡ, hỏi han lăng xăng.

Hầu Vương bây giờ tài giỏi phi thường, oai danh lừng lẫy. Các Chúa động yêu xa gần đều đến hàng phục, cống lễ.

Hầu Vương cảm thấy không có binh khí vừa tay để xử dụng, nên rẽ nước đi xuống Thủy phủ của Đông Hải Long Vương Ngao Quảng hỏi xin. Ngao Quảng sợ Hầu Vương phá khuấy nên buộc lòng phải đem các thứ binh khí trong kho ra cho Hầu Vương lựa chọn. Hầu Vương cầm thử các thứ đều chê là nhẹ. Ngao Quảng giận, dẫn Hầu Vương đến giữa đáy biển, chỉ cây cột sắt Thần chiếu hào quang nặng 13.500 cân. Hầu Vương đến ôm cột sắt nhổ lên, thấy nó rất lớn, 2 đầu bịch vàng, trên có đề chữ “Như Ý Kim Cô Bảng”. Ngộ Không liền nói: “Hãy nhỏ lại cho cầm vừa tay.” Tức thì cây sắt Thần nhỏ lại như ý muốn của Ngộ Không. Ngộ Không mừng rỡ, cầm thiết bảng múa thử một đường, làm cả Long cung rung chuyển. Cả triều đình của Long vương đều sợ sệt.

Ngộ Không lại đòi Ngao Quảng cho một bộ y giáp. Ngao Quảng phải lấy áo giáp của Ngao Thân và mão của Ngao Khâm đưa cho Ngô Không. Ngộ Không nhận lãnh mặc vào, rồi vui vẻ cám ơn Long Vương, trở về động Thủy Liêm.

Một hôm, Ngộ Không say rượu nằm ngủ trong động Thủy Liêm, bị Quỉ sứ đến bắt hồn dẫn xuống cõi Âm phủ. Ngộ Không tỉnh rượu, đánh bọn Quỉ sứ chạy tán loạn, 10 Vua Diêm Vương cả sợ, bảo Phán Quan đem Bộ Sanh Tử của loài khỉ ra xem. Ngộ Không cầm bút xóa hết tên họ của nhà khỉ vượn, để loài nầy không có số chết, trường sanh bất tử.

Sau đó, Long Vương Ngao Quảng và 10 Vua Diêm Vương đồng dâng sớ lên Thượng Đế tâu bày các sự lộng hành của Hầu Vương Tôn Ngộ Không, xin Thượng Đế bắt Ngộ Không trị tội.

Thượng Đế liền sai Thiên binh Thiên tướng đi bắt Ngộ Không, nhưng Thái Bạch Kim Tinh can gián, xin Thượng Đế gọi nó về Trời, phong chức và giáo hóa nó.

Thượng Đế bằng lòng, sai Thái Bạch đến Hoa Quả Sơn chiêu an, gọi về Trời, phong cho chức Bậc Mã Ôn, là chức quan nhỏ lo việc nuôi ngựa và giữ đàn ngựa của Thiên triều.

Ngộ Không nhận chức, làm việc được 15 ngày thì biết chức Bậc Mã Ôn thuộc vào hạng bét, nên giận Thượng Đế không biết dùng tài mình, liền trở về Thủy Liêm Động.

Bọn khỉ vượn Tứ Kiện Tướng nơi động Thủy Liêm nói:

– Tài của Đại Vương cao tột, phải làm đến chức Tề Thiên Đại Thánh mới đáng.

Ngộ Không nghe nói thế thì thích chí, liền cho làm một cây cột cờ thật cao, treo một lá cờ có đề 4 chữ thật lớn “TỀ THIÊN ĐẠI THÁNH”, rồi truyền lịnh cho bọn khỉ và các chúa động yêu là từ nay phải gọi mình là Tề Thiên Đại Thánh.

Thượng Đế sai Lý Tịnh và Na Tra xuống bắt Bậc Mã Ôn đem lên trị tội, nhưng 2 vị nầy bị Tề Thiên Đại Thánh đánh cho bại tẩu, trở về tâu rằng: Bậc Mã Ôn đòi Thượng Đế phong cho nó chức Tề Thiên Đại Thánh thì nó mới chịu.

Thái Bạch Kim Tinh tâu:

– Bậc Mã Ôn chê chức nhỏ không xứng tài nó, muốn làm Tề Thiên Đại Thánh, nhưng trên Thiên đình không có chức nầy, nay xin cứ phong cho nó, hữu danh vô thực, để nó khỏi làm loạn. Thượng Đế bằng lòng.

Thái Bạch tới động Thủy Liêm, gọi Hầu Vương, nói:

– Thượng Đế bằng lòng phong ngươi chức Tề Thiên Đại Thánh, mau lên nhận chức, đừng làm loạn mà mắc tội lớn.

Thượng Đế đòi Hầu Vương vào chầu, phán:

– Nay ta chiều ý ngươi, phong cho chức Tề Thiên Đại Thánh là chức lớn lắm rồi. Từ nay đừng gây chuyện nữa.

Thượng Đế truyền cho Lỗ Ban và Trương Ban cất một biệt dinh cho Tề Thiên, trong dinh chia ra 2 phòng có tên: Ân Linh Tự và Ninh Thần Tự, có Tiên lại phục dịch, lại ban cho Tề Thiên 2 chai ngự tửu và 10 cái bông vàng, rồi sai Ngũ Đẩu Tinh Quân đưa Tề Thiên đến phủ. Từ đây Tề Thiên vui ở trong dinh, đi chơi đây đó chẳng ai ngăn cấm.


3. Tiểu long hóa Bạch mã

Nói về Tề Thiên Đại Thánh làm loạn Thiên cung, bị Đức Phật Tổ bắt, đè xuống dưới Ngũ Hành Sơn được 500 năm, được Tam Tạng vâng lịnh Đức Quan Âm Bồ Tát đến cứu. Tề Thiên thoát khỏi núi Ngũ Hành, lạy Tam Tạng tôn làm Sư phụ, được Tam Tạng đặt thêm một tên nữa là Tôn Hành Giả.

Hành Giả phò Tam Tạng đi thỉnh kinh, nhắm hướng Tây thẳng tới. Ngày kia, 2 thầy trò đến núi Xà Bàn, bị con suối lớn gọi là suối Ưng Sầu chắn ngang. Hai thầy trò đang ngắm nghía, tìm cách vượt qua suối, thì bỗng dưới suối, một con Rồng nhỏ (Tiểu long) nhẩy lên, chờn vờn muốn chụp Tam Tạng. Hành Giả lật đật nhảy tới, ôm sốc thầy chạy thoát ra xa. Rồng đuổi theo không kịp, quay lại nuốt sống con ngựa của Tam Tạng, nuốt cả yên cương, rồi nhảy xuống suối lặn mất.

Hành Giả trở lại kêu Rồng lên đánh, Rồng đánh không lại Hành Giả nên lặn xuống suối trốn mất. Tôn Hành Giả niệm chú đòi Thổ Thần đến hỏi gốc tích của Rồng nầy. Thổ Thần cho biết Rồng nầy do Quan Âm Bồ Tát cứu sống và cho nó ở chốn nầy. Đại Thánh muốn bắt nó thì phải hỏi Đức Quan Âm.

Hành Giả trở lại báo cáo với thầy và xin thầy cho đi gặp Bồ Tát. Thần Yết Đế xin đi thay cho Đại Thánh.

Lát sau, Đức Quan Âm Bồ Tát đằng vân bay tới. Hành Giả lật đật bay lên mây ra mắt Bồ Tát. Bồ Tát nói:

– Con Rồng ấy là con trai thứ ba của Long Vương Ngao Nhuận, phạm tội ngỗ nghịch với cha nên bị Thượng Đế trừng phạt, treo lên không chờ chém đầu. Bồ Tát ngó thấy thương tình, xin Thượng Đế cho nó khỏi tội chết, để sau nầy làm ngựa cho người đi thỉnh kinh. Nhà ngươi nghĩ xem một con ngựa tầm thường làm sao có thể vượt muôn núi ngàn sông đến được đất Phật ? Cần phải có một con Long mã mới đi được.

Hành Giả nói:

– Nay Rồng nầy sợ Lão Tôn trốn mất thì làm thế nào ?

Bồ Tát gọi Thần Yết Đế, bảo:

– Nhà ngươi đến bờ khe, gọi: “Ngao Nhuận Long Vương Tam Thái tử ra cho Bồ Tát Nam Hải dạy việc.”

Yết Đế tuân lịnh. Giây lát thấy Rồng rẽ sóng nhảy lên, biến thành hình người, đến ra mắt Bồ Tát.

Quan Âm bước tới lấy trái châu nơi cổ con Tiểu long, cầm nhành dương liễu nhúng nước Cam lồ, rảy lên mình Tiểu long, rồi thổi vào một hơi, khiến Tiểu long hóa thành một con ngựa bạch. Đức Quan Âm vỗ lên đầu ngựa bảo:

– Ngươi hết lòng đưa người thỉnh kinh đi tới Tây phương mà chuộc tội, đến đó sẽ được hóa mình vàng, sống lâu muôn tuổi.

Bạch mã gật đầu. Bồ Tát truyền Tôn Hành Giả dẫn ngựa đến cho Tam Tạng, rồi Bồ Tát trở về Nam Hải.

Tam Tạng thấy Hành Giả dẫn ngựa tới, liền hỏi:

– Chẳng hay ngươi tìm được ngựa nầy ở đâu ?

– Bạch thầy, nhờ Thần Yết Đế thỉnh Đức Quan Âm tới bắt con rồng biến thành con ngựa nầy cho thầy cỡi đi thỉnh kinh, thế con ngựa khi trước.

Tam Tạng nghe nói thế thì lòng rất vui mừng, vội quì xuống, nhắm hướng Nam lạy tạ ơn Bồ Tát.

Kế đó, Thủy Thần ở suối Ưng Sầu đem bè tới, đưa thầy trò Tam Tạng và ngựa bạch vượt qua suối sang bờ bên kia.

Hai thầy trò lên bờ, Hành Giả đỡ thầy lên ngựa, nhắm hướng Tây đi tới, xảy có Thổ Địa đón dâng cho Tam Tạng một bộ yên cương và roi ngựa, nói là của Bồ Tát Nam Hải gởi tặng, khuyên Tam Tạng gắng bước thỉnh kinh, đừng trễ nải.

Tam Tạng vội xuống ngựa, quay mình về hướng Nam lạy tạ Bồ Tát.


4. Yêu tinh Hắc Phong trộm cà sa

Trên đường đi thỉnh kinh, một hôm trời gần tối, Tam Tạng và Hành Giả đến một khoảng vắng, xa xa thấy một toà nhà cao lớn, liền giục ngựa đi tới, thấy đó là ngôi chùa lớn, có tấm bảng đề là: Quan Âm Thiền Viện.

Tam Tạng đi vào được các sãi đón tiếp. Tam Tạng xin vào lạy Đức Quan Âm Bồ Tát, rồi xin nhà chùa cho tạm nghỉ một đêm để hôm sau tiếp tục lên đường thỉnh kinh.

Vị Lão Sư ngôi chùa nầy được 2 sãi nhỏ hầu 2 bên từ trong bước ra chào Tam Tạng. Một lát sau, sãi nhỏ bưng chén ngọc đĩa vàng, trịnh trọng rót trà mời khách. Tam Tạng nhìn các vật quí, tỏ lời khen:

– Thật là những của quí báu trên đời.

Vị Lão Sư nói:

– Thầy đừng quá khen làm tôi hổ thẹn. Nghe nói ở Trung quốc có rất nhiều vật báu, thầy có vật báu nào thì xin đem ra cho xem, để thưởng thức vật báu của Đại Đường.

– Đáng tiếc là tôi đi đường xa, chẳng đem theo vật gì quí báu, chỉ đem theo những món thô sơ cần dùng mà thôi.

Hành Giả đứng cạnh Sư phụ vọt miệng nói:

– Thưa Sư phụ, hôm trước con thấy trong tay nải có tấm áo cà sa của Sư phụ, nó không phải là vật quí sao ?

Một vị Hòa Thượng ngồi gần nói:

– Ngài vừa nói áo cà sa là vật quí thì buồn cười thật. Sư Tổ chúng tôi trụ trì ở đây 250 năm có tới 700 chiếc.

Vị Lão Sư trụ trì bảo tăng chúng:

– Hãy mang tất cả áo cà sa của ta ra đây cho 2 vị xem.

Lão Sư có ý khoe của, nên bảo sãi mở kho, đem ra 12 chiếc rương lớn đặt giữa nhà, mở khóa lấy các áo cà sa ra treo lên khắp 4 xung quanh. Hành Giả xem khắp một lượt, thấy toàn bằng gấm vóc thêu hoa dát ngọc, bèn cười nói:

– Đẹp lắm ! Nhưng thôi hãy dẹp đi, để tôi lấy của thầy tôi ra cho xem, mới biết áo nào quí.

Tam Tạng kêu Hành Giả lại rầy nhỏ: “Đồ đệ, đừng khoe của quí. Chúng ta có 2 người, rủi xảy ra việc gì thì sao.”

Hành Giả đáp: “Cho họ xem áo thì có gì mà sợ.”

Tam Tạng nói: “Đồ đệ chẳng nghĩ sâu, vật quí chớ cho kẻ gian trông thấy. Người đời thường lụy vì của quí.”

Hành Giả nói: “Xin thầy đừng lo, có gì con lãnh hết.”

Nói rồi chạy lại gói đồ, mở ra lấy áo cà sa. Hào quang của áo chiếu ra sáng lòa. Các sãi thất kinh le lưỡi lắc đầu. Vị Lão sư nhìn áo sững sờ không nháy mắt. Rồi như đụng vào lòng tham của Lão, Lão khóc òa, quì trước mặt Tam Tạng nói:

– Tôi xấu phước vô duyên lắm ! Con mắt tôi mờ rồi, không nhìn rõ báu vật. Nếu Hòa Thượng thương tình, cho tôi mượn áo nầy coi một đêm, sáng ra trả sớm thì tôi biết ơn lắm.

Tam Tạng nghe nói thất kinh, gọi Hành Giả đến trách:

– Bởi ngươi phách lối khoe khoang mới xảy ra cớ sự.

– Chẳng hề chi, xin thầy cứ cho họ mượn xem, nếu có điều gì bất trắc, đệ tử xin chịu hết.

Hành Giả nói dứt thì lấy áo trao cho Lão Sư. Lão Sư mừng rỡ hối dọn cơm nước đãi thầy trò Tam Tạng.

Lão Sư đem áo lên phòng xem, thấy áo quá quí, bèn khóc rống than cùng các sãi nhỏ: “Ta nay 270 tuổi, từng sắm biết bao cà sa, nhưng không áo nào có hào quang quí bằng áo nầy. Ước sao ta được mặc áo nầy một ngày, chết cũng đủ vui.”

Sãi nhỏ thưa:

– Tổ Sư cứ cầm họ ở lại một ngày thì Tổ Sư mặc áo nầy một ngày, cầm họ 10 ngày thì Tổ Sư mặc áo nầy 10 ngày, có gì mà ngồi khóc than !

Lão Sư lại nói:

– Nếu ta muốn mặc áo nầy suốt đời thì sao ?

Hòa Thượng Quảng Trí ló đầu ra nói:

– Việc ấy không khó. Tối nay, 2 người đó đi đường mệt nhọc tất ngủ say. Chúng ta lén mở cửa dùng dao cho mỗi đứa một nhát rồi đem xác chúng vùi sau vườn là xong ngay.

Hòa Thượng Quảng Mưu can:

– Kế ấy không được. Cái ông mặt trắng dễ giết, chớ cái ông mặt khỉ không dễ đối phó đâu. Tôi có kế nầy: Tổ Sư muốn được áo thì chịu cháy một phần chùa. Chúng ta mỗi người lấy một bó củi chất quanh chỗ 2 thầy trò nó ngủ, rồi chế dầu phóng hỏa, cho là chúng bị Hỏa tai, khỏi ai bắt tội.

Lão Sư khen hay, chờ cho 2 thầy trò Tam Tạng ngủ mê là thi hành độc kế.

Đang ngủ ngon, Hành Giả sáng tai thức dậy, nghe bước chân nhiều người rộn rịp, sanh nghi, liền hóa thành con muỗi, bay qua khe cửa ra ngoài, thấy bọn sãi nhộn nhịp chất củi khô, chuẩn bị chế dầu thiêu sống 2 thầy trò.

Hành Giả ngẫm nghĩ lời thầy nói lúc nảy rất đúng, bọn sãi muốn đoạt áo quí nên chất củi đốt chết 2 thầy trò. Đáng lẽ cho chúng nó nếm mùi thiết bảng, nhưng sợ thầy quở mình sát sanh, thôi ta tương kế tựu kế làm chúng một phen hoảng vía.

Nghĩ rồi, Hành Giả liền cân đẩu vân lên Nam Thiên môn, tìm Quảng Mục Thiên Vương đặng mượn cái lồng Tịch Hỏa đem về che chở Đường tăng, hẹn sáng mai lên trả gấp.

Hành Giả mượn được lồng, bay nhanh về, lấy lồng Tịch Hỏa che cho thầy và gói đồ, không cho lửa phạm đến, rồi nhảy lên nóc nhà ngồi chờ xem các sãi phóng hỏa.

Khi lửa bắt đầu cháy, Hành Giả niệm chú thổi thêm gió khiến cho lửa cháy rất mạnh, cháy lan khắp chùa, không phương cứu chữa. Các sãi kinh hoảng, lo xách đồ đạc chạy thoát thân, kêu khóc vang với.

Lúc đó, con tinh ở núi Hắc Phong nhìn qua cửa sổ thấy lửa cháy ngất Trời ở chùa Quan Âm, thất kinh nói:

– Nguy rồi ! Chùa Quan Âm bị hỏa hoạn, ta mau đến cứu hỏa cho Lão Sư.

Con yêu liền mở cửa động, đằng vân bay đến, thấy liêu phía sau lửa chưa bén tới, lại thấy một người ngồi trên nóc chùa thổi gió cho lửa cháy mạnh, rồi lại thấy trong phòng Lão Sư có một chiếc áo cà sa tỏa hào quang. Hắc Phong biết đây là áo quí, liền lẻn vào ôm áo quí bay về động, không ai hay biết.

Lửa cháy đến canh năm mới tàn, Hành Giả liền lấy lồng Tịch Hỏa bay thẳng lên Nam Thiên môn trả lại cho chủ, rồi trở về ngay chùa Quan Âm, vào phòng gọi Tam Tạng dậy.

Tam Tạng thức dậy, mở cửa phòng đi ra thấy ngôi chùa chỉ còn là một đống than, thất kinh gọi Hành Giả, hỏi:

– Sao lửa cháy sạch hết vậy ?

– Lửa cháy từ lúc nửa đêm, thầy ngủ say nên không hay.

– Lửa cháy tiêu mất ngôi chùa, sao phòng nầy còn nguyên vẹn vậy ?

– Có đệ tử canh giữ cho thầy ngủ, lửa nào dám cháy tới.

– Ngươi có phép thần thông, sao không chữa cháy cho ngôi chùa nầy ?

– Lời thầy đoán trước rất đúng, chúng nó bế cửa, chất củi chung quanh đốt chết thầy trò mình để đoạt áo cà sa. May là đệ tử hay kịp, nên giúp chúng nó một ngọn gió mạnh làm lửa cháy hết chùa cho bỏ ghét.

– Vậy áo cà sa cũng cháy ra tro rồi sao ?

– Cà sa là báu vật, có tỵ hỏa châu thì làm sao cháy được.

Tam Tạng cùng Hành Giả bước vào sau phương trượng thấy bọn sãi đang ngồi khóc than, chợt bọn sãi trông thấy 2 thầy trò tưởng là hồn ma hiện về đòi mạng, nên hoảng sợ quì mọp xuống lạy và van vái: “Oan có người, nợ có chủ, xin 2 oan hồn dung mạng.” Tôn Hành Giả hét:

– Quân đê tiện ! Thầy trò ta không phải là hồn oan, chúng bây mau kiếm áo cà sa trả lại ta, kẻo tan xương cả bọn.

Các sãi chấp tay run rẩy thưa:

– Hai ông đã bị chết thiêu, sao còn đến đây đòi áo ?

– Có Lão Tôn đây, lửa làm sao cháy tới liêu ? Các ngươi mau ra đó xem đi có phải vậy chăng ?

Các sãi rầm rộ chạy ra thấy liêu còn nguyên vẹn, ai nấy đều cho rằng hai thầy trò nầy là bực Thần Tiên chi đây nên lửa không làm hại được. Lão Sư vội vào phòng đến chỗ để áo cà sa thì hỡi ôi áo đã biến mất mà chùa thì bị cháy tiêu. Lão Sư quá thất vọng, liền đập đầu vào cột tự tử.

Tôn Hành Giả nổi giận, tự mình đi lục xét khắp chùa, nhưng vẫn không thấy áo cà sa của thầy. Hành Giả rất bồn chồn, sợ thầy giận niệm Chú Cẩn Cô, chợt hội ý hỏi các sãi:

– Ở gần đây có yêu tinh nào không ?

– Ở về phía Nam núi nầy có động Hắc Phong, chúa động thường đến đây chơi với Lão Sư.

Hành Giả nói với thầy:

– Xin thầy đừng giận, đệ tử hết lòng đi tìm áo đem về. Có lẽ con yêu Hắc Phong nầy đến trộm áo trong lúc lửa cháy, để đệ tử đi kiếm nó đòi áo. Còn các người ở đây phải hầu hạ thầy ta cho tử tế, giữ gìn ngựa và đồ đạc, nếu biếng trễ ta không tha cho đâu.

Nói rồi Hành Giả móc thiết bảng trong lỗ tai, nhồi lên một cái thì nó lớn ra, đập bức tường trước mặt nát vụn để thị uy, xong Hành Giả nhảy lên mây, bay đi tìm động Hắc Phong.

Tôn Hành Giả đang đi tìm kiếm, bỗng nghe có tiếng nói nhỏ, liền đến rình nghe, thấy 3 con yêu đang ngồi nói chuyện rất thân mật. Con yêu ngồi giữa mặt đen nói:

– Mai nầy đến ngày sinh nhật của tôi, tôi lại lượm được cái áo cà sa rất quí, tôi sẽ làm tiệc ăn mừng gọi là Hội Phật Y, mời các vị tới dự.

Con yêu mặc áo đạo sĩ và con yêu mặc áo trắng nói:

– Hay lắm ! Tôi chẳng dám quên. Cha chả là vui !

Hành Giả nghe đến đây biết là con yêu mặt đen đã trộm áo cà sa, lòng tức giận, nhảy ra quát:

– Lũ yêu nầy ăn cắp cà sa của ta, lại còn rủ nhau ăn mừng, cả gan thật, hãy coi thiết bảng của Lão Tôn.

Hét xong vụt thiết bảng đập liền. Con yêu mặt đen nổi gió bay đi, con yêu mặc áo đạo sĩ đằng vân bay mất, con yêu áo trắng bị Hành Giả đập chết, hóa ra là một con Bạch hoa xà.

Hành Giả liền đuổi theo con yêu mặt đen, đến một cửa động, thấy đề là: Hắc Phong Động. Hành Giả đập một thiết bảng vào cửa động, gọi lớn:

– Con yêu trộm áo cà sa, mau trả lại cho Lão Tôn.

Con yêu Hắc Phong nai nịt xong, mở cửa động xông ra mắng Hành Giả:

– Đêm hôm mày thổi gió đốt chùa, bị tao lấy mất áo cà sa mà không hay, thật là đồ vô dụng, còn đến đây đòi áo.

Hành Giả lướt tới đánh nhầu, đánh tới trưa mà chưa thắng con yêu, nên phải trở về báo cáo mọi việc cho thầy rõ. Buổi chiều, Hành Giả đến động Hắc Phong đánh nữa, vẫn không thắng được con yêu, đành trở về, bỗng nghĩ rằng, con yêu nầy ở gần chùa Quan Âm, có lẽ Bồ Tát biết rõ, liền xin với thầy cho đi Nam Hải bạch với Bồ Tát.

Đức Quan Âm Bồ Tát nói:

– Nó là con tinh gấu trộm áo. Bởi ngươi đem khoe vật báu, đứa tiểu nhân nổi lòng tham mới sanh cớ sự, ngươi biết lỗi của ngươi chăng ?

– Đệ tử rất hối lỗi, xin Bồ Tát tha thứ. Xin Bồ Tát trừ con yêu đó đặng thu lại áo cà sa.

Bồ Tát cùng Hành Giả đằng vân đến động Hắc Phong, bỗng Hành Giả thấy con yêu mặc áo đạo sĩ bưng một dĩa lưu ly đựng 2 viên linh đơn, Hành Giả nhào xuống đập chết ngay, nó hóa thành một con chó sói lông xanh. Bồ Tát quở:

– Con khỉ nầy hung hăng quá, sao lại giết kẻ vô can ?

– Bạch Bồ Tát, chính nó là bè lũ của con tinh gấu, nó bưng 2 viên thuốc nầy đến mừng hội Phật Y đó.

Hành Giả nhìn dĩa lưu ly thấy có hàng chữ nhỏ: “ Lăng Hư Tử chế”, nghĩa là: 2 hoàn linh đơn nầy do con yêu tên là Lăng Hư Tử chế ra. Tôn Hành Giả nghĩ được một kế liền nói:

– Bạch Bồ Tát, tôi có một kế mọn là tôi sẽ nuốt bớt một viên linh đơn, rồi tôi biến hình thành một viên linh đơn khác to hơn một tí. Bồ Tát biến thành Lăng Hư Tử, bưng 2 viên linh đơn giả đến mừng hội Phật Y, gạt cho con yêu gấu đen uống vào, tôi mà vào bụng nó rồi thì lo gì nó không trả áo cà sa.

Bồ Tát ngẫm nghĩ, thấy không có kế gì hay hơn, nên đồng ý làm theo kế của Hành Giả.

Khi viên linh đơn giả vào bụng Hắc Phong, Hành Giả liền hiện nguyên hình, đạp đá lung tung làm Hắc Phong đau quá nhào lăn xuống đất, năn nỉ xin tha mạng sống. Bồ Tát liền hiện nguyên hình, nói:

– Con yêu nầy, đem cà sa ra trả, ta tha cho khỏi chết.

Con yêu Hắc Phong rên rỉ, hối tiểu yêu vào lấy áo cà sa. Hành Giả theo lỗ mũi của Hắc Phong vọt ra, giựt áo cà sa giữ chặt. Con yêu hết đau, chồm dậy, lấy giáo đâm Hành Giả. Bồ Tát liền ném kim cô chụp lên đầu Hắc Phong niền lại, rồi niệm chú, Hắc Phong đau đầu quá phải chịu phép qui hàng.

Bồ Tát nói:

– Nếu ngươi cải tà qui chánh, ta mới tha mạng và đem về làm Thủ Sơn Đại Thần, giữ núi Lục Đà.

Con yêu Hắc Phong tuân mạng, cải dữ làm lành, theo Bồ Tát về Nam Hải. Bồ Tát nói với Hành Giả:

– Từ nay, ngươi bỏ tánh sanh sự thì mới là kẻ tu hành.

Hành Giả vâng dạ, lạy tạ Bồ Tát, đem áo cà sa trở về cho thầy và trình bày hết các việc.


5. Tam Tạng cứu Tề Thiên thoát khỏi núi Ngũ Hành và thâu làm đồ đệ

Tôn Ngộ Không, từ ngày nhận chức Tề Thiên Đại Thánh ở cõi Trời, hằng ngày ở trong phủ, không có việc gì làm, nên đi dạo chơi khắp Thiên cung, làm bạn với các Tiên.

Tinh Quân Hứa Chơn Quân thấy vậy tâu Thượng Đế:

– Tề Thiên Đại Thánh ngày ngày đi dạo chơi khắp nơi, hiên ngang lêu lỏng, e để lâu sanh tệ, xin Ngọc Hoàng giao cho nó một việc gì làm để tập rèn tánh nết.

Ngọc Hoàng Thượng Đế y tấu, đòi Tề Thiên vào, giao cho cai quản Vườn Đào Tiên của Tây Vương Mẫu.

Kể từ đó, Tề Thiên không đi chơi nữa, lo giữ vườn đào, thấy đào Tiên loại 9 ngàn năm mới chín một lần ửng đỏ thơm ngon, nhịn thèm không được bèn hái ăn, ăn dần dần gần hết vườn đào. Nay đến kỳ mở Hội Bàn Đào, Vương Mẫu sai 7 Tiên Nữ đến hái Đào Tiên về đãi chư Tiên Phật, mới phát hiện ra Đào Tiên 9 ngàn năm không còn trái nào chín hết, chỉ còn một ít trái xanh. Tề Thiên dùng phép định thân, khiến 7 Tiên Nữ đứng trơ dưới gốc đào, rồi Tề Thiên bay đến Cung Diêu Trì xem Hội Bàn Đào ra sao cho biết, xảy thấy Xích Cước Đại Tiên đi đến phó Hội, Tề Thiên nói gạt cho Xích Cước đi qua Thông Minh Điện chầu Thượng Đế, còn mình thì biến ra Xích Cước Đại Tiên, giả đi phó Hội Diêu Trì, thấy tiệc đã dọn linh đình, chỉ còn thiếu trái Đào Tiên, chợt ngữi mùi rượu Tiên rất thơm từ nhà bếp xông lên, liền mò xuống đó, thấy có quân canh giữ, Tề Thiên làm phép cho quân canh ngủ gục, vào lấy Tiên Tửu và đồ ăn, ăn uống hả hê, đến lúc say mèm. Giây lát, Tề Thiên tỉnh rượu, nghĩ thầm: Không xong ! Mình giữ vườn đào, lén ăn đào Tiên hết sạch, lại ăn cắp đồ ăn và Tiên tửu uống say, lát nữa phát giác ra thì nguy to, thôi dông tuốt về động Thủy Liêm mà trốn. Nghĩ rồi, Tề Thiên Đại Thánh biến hình nhảy qua cửa Đông Thiên môn trốn về Đông Thắng Thần Châu, núi Hoa Quả, động Thủy Liêm.

Sau đó, các nơi đều báo cáo các việc khuấy động của Tề Thiên với Thượng Đế. Thượng Đế nổi giận, sai Tứ Đại Thiên Vương, Nhị thập bát Tú, Cửu Diện Tinh Quân, Ngũ Phương Yết Đế, cùng các Thiên Tướng, đem 10 vạn Thiên binh xuống núi Hoa Quả bắt Tề Thiên đem về trị tội.

Tề Thiên Đại Thánh dẫn binh ra ứng chiến, đánh lui Thiên binh Thiên Tướng. Thượng Đế phải truyền chỉ cho Dương Tiễn đến giúp mới đánh cầm đồng với Tề Thiên. Đức Thái Thượng Lão Quân dùng Kim Cang Sào ném xuống Tề Thiên trong lúc Tề Thiên đang đánh với Dương Tiễn, nên Tề Thiên không tránh kịp, bị trúng Sào, té nhào bất tỉnh, Tề Thiên bị Dương Tiễn bắt trói đem nạp Thiên đình.

Thượng Đế truyền Đại Lực Quỉ Vương dẫn Tề Thiên ra đài trảm yêu chém đầu trừ họa. Nhưng gươm chém vào mình Tề Thiên thì gươm bị mẻ, còn nổi lửa đốt thì không làm cháy được một sợi lông của Tề Thiên. Thái Thượng tâu:

– Con yêu nầy ăn vụng Bàn đào, uống Tiên tửu, nuốt hết 5 bầu linh đơn của tôi, nay nó thành mình vàng, giết sao cho chết. Xin Thượng Đế giao nó cho tôi, tôi đem bỏ nó vào lò Bát Quái, dùng lửa phép đốt hầm, cho thuốc kim đơn trào ra, thì nó phải chết.

Thượng Đế chấp thuận, giao Tề Thiên cho Lão Quân.

Lão Quân bỏ Tề Thiên vào lò Bát Quái, đốt 49 ngày đêm. Tề Thiên lanh trí, đứng nép vào Cung Tốn tránh được lửa, nhưng bị khói xông vào 2 mắt thành mắt đỏ tròng vàng.

Đúng 49 ngày đêm, người giữ lò Bát Quái mở nắp, Tề Thiên vội phóng ra, cầm thiết bảng đánh phá lung tung, mọi người đều sợ hãi. Tề Thiên đánh lần đến Điện Linh Tiêu, không ai cản nổi, làm kinh động Thượng Đế.

Thượng Đế cấp tốc sai Du Tiệc Linh Quan qua Tây Phương cầu viện Phật Tổ. Phật Tổ gọi A-NanCa-Diếp đi theo, cấp tốc đến Điện Linh Tiêu, thấy Tề Thiên đang đánh phá. Phật Tổ kêu Tề Thiên đến hỏi:

– Chẳng hay ngươi sanh ở đâu, thành đạo hồi nào mà nay phản loạn Thiên cung như vậy ?

Tề Thiên đáp:

– Trời Đất khiến đá nứt sanh ra ta, lâu nay ở núi Hoa Quả, động Thủy Liêm, luyện được phép trường sanh bất tử. Nay thấy cõi Trung giới âm u, muốn lên Thiên cung kêu Ngọc Hoàng nhượng chức.

– Ngươi là con khỉ đá, có tài phép bao nhiêu mà lớn lối như thế. Nếu ngươi nhảy khỏi bàn tay của ta thì ta yêu cầu Thượng Đế nhường ngôi cho ngươi, khỏi tốn công chiến đấu.

– Ngươi hứa như vậy chắc không ?

– Chẳng lẽ ta là Phật Tổ mà nói dối ngươi sao ?

Dứt lời, Phật Tổ xòe bàn tay hữu ra. Tề Thiên co chân nhảy vọt, bỗng thấy có 5 cây cột màu đỏ như thịt, trên đầu có mây xanh, bèn nghĩ thầm: Ta đã nhảy đi quá xa rồi, dường như cùng đường, nhưng phải làm dấu để phòng khi đối nại với Thích Ca. Nghĩ rồi liền nhổ lông biến ra viết mực, đề lên cây cột 8 chữ: “Tề Thiên Đại Thánh đi tới chỗ nầy.”, viết xong đái vào chân cột, rồi cân đẩu vân trở lại nói với Thích Ca:

– Lão Tôn đã nhảy khỏi bàn tay của ngươi, ngươi bảo Ngọc Hoàng nhượng chức cho ta đi.

Đức Phật Thích Ca giận mắng:

– Con khỉ đái vất, chưa rời khỏi bàn tay của ta mà đòi nhượng chức. Ngươi hãy nhìn vào bàn tay của ta, coi nhà ngươi đã đi tới đâu ?

Tề Thiên nhìn vào bàn tay, thấy ngón tay giữa của Phật Tổ có đề 8 chữ và dưới ngón tay có dính chút nước đái. Tề Thiên hoảng sợ, vội nhảy trốn, liền bị Phật Tổ úp bàn tay lại, 5 ngón tay biến thành 5 núi, gọi là Ngũ Hành Sơn, đè chặt Tề Thiên. Mọi người nhìn thấy đều rất khen ngợi Phật Tổ.

Đoạn Đức Phật sai A-Nan và Ca-Diếp lấy lá bùa trên đó có 6 chữ: “Úm Ma Ni Bát Mê Hồng” dán nơi đỉnh núi Ngũ Hành làm cho 5 hòn núi mọc rễ khép liền lại, đè Tề Thiên không cho cử động. Đức Phật lại sai Thổ Địa và Ngũ Phương Yết Đế canh giữ Tề Thiên, đói cho ăn sắt cục, khát cho uống nước đồng, chờ khi hết tội có người đến cứu.

Thời gian trôi qua 500 năm. Đức Phật muốn truyền Tam Tạng Kinh cứu độ dân chúng nơi nước Đại Đường (Trung Hoa), nên ra lịnh cho Đức Quan Âm Bồ Tát đến Đại Đường tìm người đi thỉnh kinh báu. Đức Quan Âm vâng lệnh, đi từ Tây phương đến Đại Đường.

Trên đường đi, Bồ Tát độ được Sa Tăng, đặt pháp danh Ngộ Tịnh, bảo chờ ở đây, sau theo bảo hộ người đi thỉnh kinh, lập công trừ tội, sẽ trở lại được ngôi cũ nơi Thiên đình.

Tiếp theo, Bồ Tát độ được Trư Bát Giới, đặt pháp danh Ngộ Năng, cũng bảo chờ ở đây, sau theo bảo hộ người đi thỉnh kinh, lấy công trừ tội, để được trở về ngôi cũ nơi Thiên đình.

Bồ Tát đi tiếp, gặp con Rồng bạch là con trai thứ ba của Long Vương Ngao Nhuận, vì tội ngỗ nghịch nên bị phạt treo ở đây, chờ ngày hành quyết. Bồ Tát cứu khỏi chết, bảo tạm ở khe Ưng Sầu, chờ người thỉnh kinh đến, biến làm Bạch mã đưa người thỉnh kinh đến Tây phương, lấy công trừ tội.

Bồ Tát tiếp tục đi về phía Đông, đến núi Ngũ Hành, thấy Tề Thiên bị núi đè đã 500 năm, liền than thở. Tề Thiên biết có Bồ Tát Quan Âm tới, nên cầu xin cứu giúp, nói:

– Tôi nay biết ăn năn hối lỗi, xin sửa mình theo Phật, xin Bồ Tát từ bi cứu giúp.

– Ngươi quyết lòng qui y thì đợi ta đến nước Đại Đường tìm người thỉnh kinh, khi người đó qua đây thì sẽ cứu ngươi, ngươi theo làm đệ tử, bảo hộ người ấy đi thỉnh kinh ở Tây phương, thì công ấy sẽ giúp ngươi thành ngôi Chánh quả.

Tề Thiên vâng chịu nằm chờ và cảm tạ Bồ Tát.

Đức Bồ Tát Quan Âm đến nước Đại Đường, tìm được Hòa Thượng Trần huyền Trang pháp danh Tam tạng, là người có chí quyết đi thỉnh kinh Tây phương, để đem về siêu độ các vong linh. Trần huyền Trang được vua Đường Thái Tông kết làm anh em, rồi vua cấp sứ điệp cho đi Tây phương thỉnh kinh.

Trải qua nhiều nỗi gian truân, Hòa Thượng Trần huyền Trang đi đến núi Ngũ Hành, bỗng nghe tiếng kêu lớn ở chơn núi. Hòa Thượng đến đó thì thấy một cái đầu khỉ ló ra nói:

– May quá, sư phụ vưa tới.

Tam Tạng (Trần huyền Trang) hỏi:

– Ta vâng lịnh vua Đường đi Tây phương thỉnh kinh, ngươi có điều gì muốn hỏi ?

– Tôi là Tề Thiên Đại Thánh, 500 năm trước tôi loạn Thiên cung, bị Phật Tổ dùng phép Ngũ Hành Sơn đè tôi dưới núi nầy, nay đã được 500 năm. Nghĩ mình có tội nên chịu phép nằm im. Vừa rồi, Quan Âm Bồ Tát qua đây, tôi cầu khẩn cứu tôi. Bồ Tát dạy: Chờ Sư phụ đi thỉnh kinh ngang qua đây, Sư phụ sẽ cứu tôi khỏi Ngũ Hành Sơn, tôi làm đệ tử thầy, bảo hộ thầy đi thỉnh kinh. Vì vậy tôi yên tâm nằm chờ Sư phụ ở đây.

Tam Tạng mừng rỡ nói:

– Nhưng ta làm sao cứu được ngươi ?

– Muốn cứu tôi, xin thầy leo lên đỉnh núi, gỡ lá bùa có 6 chữ do Phật Tổ cho dán, thì tôi có cách vùng thoát ra được.

Tam Tạng liền leo lên đỉnh núi, quả thật thấy lá bùa 6 chữ, hào quang tỏa ra sáng lòa. Tam Tạng lại gần, quì xuống, hướng về Tây phương cầu nguyện: “Đệ tử là Trần huyền Trang, vâng lịnh vua Đường Thái Tông, đi Tây phương thỉnh kinh về Đông độ, nếu phải tôi có phần gỡ lá bùa lục tự để cứu Thần hầu thì xin Phật Tổ y cho để cứu Thần hầu, làm đệ tử bảo hộ tôi trên đường thỉnh kinh gian nan vạn dặm.”

Vái xong, đưa tay lên gỡ lá bùa, bỗng có cơn gió thổi tới, lá bùa bay lên mây, có tiếng nói vọng xuống:

– Ta là La Châu có phận sự gìn giữ Đại Thánh, nay mãn hạn, ta đem lá bùa dâng lại Như Lai.

Tam Tạng thất kinh, quì lạy thinh không, rồi kíp đi xuống núi nói với Thần hầu:

– Ta đã gỡ lá bùa, ngươi tính cách nào thoát ra đây ?

Đại Thánh mừng rỡ nói:

– Xin thầy chạy đi khỏi chỗ nầy cho thật xa, để tôi vùng dậy, đá lăn đè chết.

Tam Tạng vội vả chạy khỏi nơi đó thật xa, có đến bảy tám dặm, nhưng Tề Thiên vẫn nói lớn: “Hãy chạy thêm cho xa hơn nữa”. Tam Tạng cố chạy thêm cho xa hơn nữa, bỗng nghe một tiếng ầm dữ dội, đá bay tung tóe rớt xuống ầm ầm, Tam Tạng sợ sệt đứng nhìn, chợt thấy Tề Thiên Đại Thánh đến đứng trước mặt nói:

– Đệ tử vừa vùng thoát khỏi núi, xin lạy thầy 4 lạy tạ ơn.

Dứt lời quì lạy Tam Tạng. Tam Tạng thấy Đại Thánh có tánh chơn thật, không kiêu căng thì mừng thầm, nói:

– Đệ tử thành tâm theo ta thì cho biết tên họ.

– Bạch Sư phụ, con họ Tôn tên Ngộ Không.

– Tên nầy rất hợp với ta, nhưng ta cũng đặt thêm cho đệ tử một tên để gọi là Tôn Hành Giả, có bằng lòng không ?

– Tốt lắm, đệ tử vâng lời.

Nói xong đến dắt ngựa, đỡ thầy lên yên, rồi cầm thiết bảng đi trước mở đường, Tam Tạng cỡi ngựa đi theo sau. Ngày đi đêm nghỉ, vượt núi băng ngàn.

Ngày kia, Hành Giả gặp một bọn cướp 6 tên chận đường đòi tiền mãi lộ. Hành Giả nổi giận quơ thiết bảng đập chết 6 tên cướp. Tam Tạng khiển trách:

– Chúng đi ăn cướp thì trò bắt chúng đem nạp quan phân xử, lẽ nào đệ tử qui y theo Phật rồi mà lại phạm sát giới quá nặng như vậy. Như thế là quá tàn ác, sao gọi là tu hành.

Hành Giả nói:

– Nếu không giết chúng thì chúng làm hại thầy sao ?

– Người tu niệm thà chịu chết chớ không giết người.

Hành Giả thưa:

– Tôi là đệ tử không dám giấu thầy, 500 năm trước tôi xưng vua xưng chúa, giết người như kiến cỏ, nếu nói như thầy thì làm sao tôi lên được chức Tề Thiên Đại Thánh ?

– Bởi ngươi bạo ngược, không kể Trời Đất nên bị Phật Tổ bắt đày nằm dưới Ngũ Hành Sơn 500 năm. Nay đã tu hành, nếu không cải ác tùng thiện thì không được làm Hòa Thượng và không đến được Tây phương.

Tam Tạng cứ rầy rà Hành Giả mãi, làm Hành Giả rất bực mình, trợn mắt nói:

– Thầy nói tôi chưa lành, không được làm Hòa Thượng đi Tây phương, vậy để tôi về cho xong, khỏi mất công thầy la rầy cho mỏi miệng.

Tam Tạng chưa kịp trả lời thì Tôn Hành Giả nhảy vụt lên mây mất dạng. Tam Tạng buồn bã gác hành lý lên yên, chống gậy dắt ngựa đi tới. Xảy thấy một bà già tay cầm cái áo thầy chùa và một cái mão, đến trao cho Tam Tạng đặng tặng cho đệ tử. Tam Tạng nói:

– Tôi có người đệ tử tánh tình hung dữ, dạy khuyên không được, vừa rồi nó bỏ tôi đi về hướng Đông mất dạng.

Bà già nói:

– Nếu nó đi về hướng Đông ắt nó ghé nhà ta. Thầy hãy thuộc lòng câu Thần chú Định Tâm nầy thì khiển nó mới được. Ta sẽ đi gọi nó trở lại, thầy cho nó đội cái mão nầy, nếu nó không nghe lời thì niệm chú Định Tâm, niền Kim Cô của mão sẽ siết đầu nó lại, đau nhức chịu không nổi, tất phải chịu phép.

Bà lão truyền phép xong thì hiện hào quang bay về hướng Đông, giữa đường gặp Tôn Hành Giả liền dừng lại hỏi:

– Ngộ Không, sao ngươi không theo bảo hộ thầy đi thỉnh kinh mà còn đi chơi đâu đó ?

Tôn Hành Giả quì lạy thưa:

– Bạch Đức Bồ Tát, vì thầy tôi khó tính, la rầy tôi suốt ngày, tôi chịu không nổi nên bỏ đi giây lát cho khuây khỏa rồi trở lại theo thầy.

– Ngươi mau trở lại bảo hộ thầy, kẻo gặp thú dữ.

Hành Giả bái tạ Đức Quan Âm, trở lại gặp thầy đang ngồi ủ rủ bên đường, lật đật bước tới nói:

– Đệ tử khát nước, nên xuống Long Vương Đông Hải uống ít chén trà, để sư phụ ngồi đợi.

– Ngươi có tài đi kiếm nước trà, để ta một mình nhịn đói. Trong hành lý có cơm khô và bình bát, đệ tử đi múc cho ta bát nước uống cho khỏe.

Hành Giả tuân lời, mở hành lý ra thấy có một cái áo đẹp và một cái mão tỏa hào quang, thấy vừa với khổ người của mình liền cầm lấy, hỏi Tam Tạng:

– Áo mão đâu mà đẹp quá ! Nó có vẻ vừa với con, nếu thầy không dùng, xin thầy cho đệ tử.

– Nếu ngươi mặc vừa thì ta tặng cho ngươi.

Hành Giả mừng rỡ, liền mặc áo và đội mão vào, chẳng ngờ cái niền Kim Cô của mão liền dính chặt vào đầu. Hành Giả lấy thiết bảng biến cho nhỏ lại đặng cạy kim cô ra nhưng không được. Tam Tạng sợ hư Kim Cô, liền niệm chú Định Tâm, niền Kim Cô siết lại, làm Hành Giả nhức đầu lăn lộn dưới đất, mặt mũi sưng vù, la lớn:

– Ôi nhức muốn bể cái đầu ! Chắc bể sọ chết mất !

Tam Tạng thôi niệm chú. Hành Giả thấy bớt đau, nói:

– Tại thầy lảm nhảm nguyền rủa đệ tử làm đệ tử nhức vang cả đầu.

– Bồ Tát vừa truyền phép nầy cho ta để ta điều khiển ngươi mới nổi.

Hành Giả cả giận, nói:

– Ta đi Nam Hải đánh Bà ấy báo thù.

– Con khỉ nầy khờ quá ! Bồ Tát đã truyền Thần chú cho ta, lẽ nào Bồ Tát không biết Thần chú nầy. Ngươi qua đó, Bồ Tát niệm chú cho ngươi chết luôn.

Hành Giả rùn mình sợ hãi, liền quì xuống van xin:

– Bồ Tát truyền Thần chú cho thầy để buộc tôi phải nghe lời thầy và bảo hộ thầy đi cho tới Tây phương thỉnh kinh. Từ nay tôi không dám giận hờn nữa, luôn luôn nghe lời thầy chỉ dạy.

Kể từ đó, Tôn Hành Giả không dám cải lời Tam Tạng nữa, một lòng một dạ bảo hộ thầy đi đến Tây phương thỉnh kinh.


6. Tam Tạng thâu Trư Bát Giới

Hai thầy trò Tam Tạng (Tam Tạng và Tôn Hành Giả) trên đường đi thỉnh kinh, ngày kia đến một xóm đông dân cư, gọi là xóm Cao Lão nước Ô-Lư thì Trời vừa tối, chưa vào xóm thì gặp một thanh niên từ trong xóm tất tả đi ra. Hành Giả nắm tay kéo lại hỏi thăm, người ấy nói:

-Tôi là Cao Tài, người của Cao Thái Công, vâng lịnh chủ tôi đi tìm thầy rước về trừ yêu quái trong nhà.

Tôn Hành Giả cười nói:

– Thế là chú gặp may rồi. Thầy trò tôi chuyên đi bắt quỉ trừ yêu giúp người. Chú đưa thầy trò tôi đến nhà Cao Lão để tôi trừ yêu quái giùm cho.

Cao Tài nhìn tướng mạo của Hành Giả giống như Thiên Lôi, chắc là có tài bắt quỉ, nên bằng lòng dẫn về.

Cao Thái Công ra ngõ đón vào, phân ngôi chủ khách mời ngồi. Tôn hành Giả hỏi Cao Thái Công:

– Ông hãy nói rõ đầu đuôi xem con yêu ấy ra sao.

– Tôi già rồi mà không có con trai nối hậu, chỉ sanh được 3 gái, hai đứa lớn đã có chồng trong xóm nầy, chỉ còn con gái út tên là Túy Lan, có sắc đẹp lại thông minh, rành nghề thêu đan, giỏi văn chương, tôi tính bề kén rể đông sàng. Cách đây 3 năm, có một thanh niên họ Trư đến đây xin ở rể, coi cũng phải người quân tử, nên tôi bằng lòng gả con gái tôi cho nó và dụng bề bắt rể. Khi mới về nó ăn ở phải lắm, nhưng về sau lại thay hình đổi dạng, tướng mạo dị kỳ, mỏ dài, tai lớn như heo, ăn uống mỗi bữa quá nhiều, may mà nó ăn chay, lại đi mây về gió, cát bay đá chạy, báo hại gia đình tôi và lối xóm hoảng kinh. Tôi biết được nó là yêu tinh, nên rước nhiều thầy phù thủy về ếm, nhưng nó chẳng sợ ai. Nó lại bắt con gái tôi nhốt ở nhà sau, khóa cửa phòng lại, trót nửa năm nay, tôi không thấy mặt con, không biết nó còn sống hay đã chết.

Tôn Hành Giả nói:

– Ông hãy dẫn tôi ra chỗ đó để tôi đón bắt nó.

Cao Thái Công dẫn Hành Giả ra nhà sau, thấy cửa khóa kín, Hành Giả lấy thiết bảng đập nhẹ thì ống khóa banh ra, mở cửa đi vào. Hành Giả bảo:

– Ông gọi con gái của ông ra đi.

Cao Lão lên tiếng gọi Túy Lan thì có một giọng nói yếu ớt từ trong phòng tối phát ra:

– Cha ơi ! Con ở trong nầy.

Tôn Hành Giả nheo mắt nhìn vào thấy một nàng con gái gầy mòn, tóc mây ủ rủ, bước ra ôm chầm Thái Công khóc òa. Tôn Hành Giả nói:

– Nàng hãy chỉ con yêu đang ở đâu để ta bắt nó.

– Nó đi theo gió theo mây, tôi không biết đường nào. Nó biết cha tôi muốn bắt nó nên khuya mới về nhà rồi gần sáng thì đi mất.

– Cao Lão hãy dẫn con gái ra đi, rồi đi mời ít vị bô lão đến nói chuyện với thầy tôi cho vui, còn tôi ở lại đây, chờ con yêu tới đặng tôi chận bắt nó.

Cao Lão vui mừng dắt con gái đi. Tôn Hành Gia niệm chú biến thành nàng Túy Lan, đóng cửa phòng lại, nằm chờ con yêu tới. Một lúc sau, nghe tiếng gió thổi ù ù, con yêu liền xuất hiện, mình người đầu heo, tai lớn mặt dài. Tôn Hành Giả vọt tới nắm áo, hiện lại nguyên hình là Tề Thiên Đại Thánh, bắt sống con yêu. Con yêu thất kinh vùng vẫy bứt áo chạy thoát ra ngoài, hóa gió bay về núi Phước Lăng.

Tôn Hành Giả rượt theo, con yêu bay tuốt vào động, xách đinh ba trở ra cự chiến. Hành Giả hỏi:

– Nhà ngươi tên chi, có tài nghệ gì, mau khai tên họ, Lão Tôn sẽ rộng dung cho khỏi chết.

Con yêu đáp:

– Ngươi muốn biết hãy lóng nghe lời ta :

Tánh ta hay làm biếng,
Ham chơi chẳng học hành,
Gặp Tiên trao Thánh đạo,
Truyền phép luyện đơn kinh,
Chức Thiên Bồng Nguyên soái,
Phong Tổng đốc Thủy binh,
Nhóm Bàn Đào nườm nượp,
Uống ngự tửu huỳnh đình,
Say lạc vào Cung Quảng,
Sanh tâm ghẹo Hằng Nga,
Ngọc Hoàng giận bắt tội,
Đày ra khỏi Thiên đình,
Đầu thai không nhằm nẻo,
Heo rừng có chửa sanh,
Lấy tên đèo làm họ,
Trư cang Liệp thị danh.

Tôn Hành Giả cười lớn:

– Ngươi là Thiên Bồng Nguyên Soái thuộc Hạ giới Thủy Thần, có biết ta là ai chăng ?

– Ngươi là Bậc Mã Ôn dấy loạn Thiên Cung, cớ sao đến đây phá ta như vậy ? Ta đập một đinh ba cho ngươi biết mặt.

Nói rồi, 2 người đánh nhau trong đêm tối, con yêu họ Trư đánh không lại, nhảy trốn vào động. Tôn Hành Giả thấy cửa động chắc chắn, trên có đề 3 chữ: Vân Sơn Động, thấy Trời sắp sáng nên trở về nhà Cao Lão vì sợ thầy trông ngóng.

Tôn Hành Giả từ trên mây đáp xuống, ai nấy đều giựt mình kinh hãi. Hành Giả vào thuật lại cho thầy nghe:

– Người ấy không phải yêu tinh, mà là Thiên Bồng Nguyên soái, đầu thai vào heo rừng nái nên có diện mạo xấu xa như thế. Nó đánh không lại Lão Tôn nên trốn vào động.

Tam Tạng nói:

– Sao ngươi không bắt nó đem về đây cho xong việc.

– Thấy Trời gần sáng nên đệ tử vội về báo tin cho thầy rõ. Để đệ tử đi bắt nó dẫn về đây.

Hành Giả bay xuống động Vân Sơn, lấy thiết bảng đập cửa động mấy cái, cửa bung ra, liền mắng:

– Đồ ăn cám, mau ra đây đánh với Lão Tôn.

Trư cang Liệp đang ngáy pho pho, giựt mình thức dậy, lật đật vác đinh ba chạy ra cự chiến, nói:

– Nầy Bậc Mã Ôn, ta không thù oán chi với ngươi, sao ngươi phá ta hoài như vậy ? Có phải ngươi ăn tiền của Cao Lão đặng bắt ta chăng ?

– Đừng nói bậy, ta có ăn tiền của Cao Lão hồi nào ? Do ta cải tà qui chánh, theo bảo hộ Đường tăng đi Tây phương thỉnh kinh, lỡ đường vào ngủ nhờ nhà Cao Lão, ông ấy khẩn cầu ta bắt đồ ăn cám để cứu con gái Lão.

Trư cang Liệp nghe nói Đường tăng đi thỉnh kinh thì mừng rỡ, vội vàng ném đinh ba chắp tay vái Hành Giả:

– Chẳng hay thầy thỉnh kinh ở đâu, xin anh dắt tôi đến đó.

– Ngươi muốn đến gặp thầy có việc gì ?

– Quan Âm Bồ Tát dặn tôi tu niệm. Bảo chờ đợi ở đây, khi có người thỉnh kinh đến thì theo đi thỉnh kinh, lấy công chuộc tội. Anh không nói sớm, lại ỷ mạnh đánh tôi, sanh ra phiền phức.

– Ta tạm tin lời người. Nếu thiệt lòng, hãy đốt cháy động rồi theo ta đi gặp thầy.

Trư cang Liệp nghe lời, lấy củi khô chất khắp trong và ngoài động, rồi nổi lửa đốt. Tôn Hành Giả cùng họ Trư đằng vân trở về nhà Cao Lão. Họ Trư vào quì lạy Tam Tạng nói:

– Đệ tử xin ra mắt sư phụ, xin sư phụ miễn chấp. Đệ tử đã được Quan Âm dặn chờ sư phụ ở đây, đặng theo sư phụ đi thỉnh kinh. Tại sư huynh không nói trước để xảy ra đánh nhau.

– Nay ngươi theo ta làm đệ tử, ta đặt pháp danh ngươi là Trư Ngộ Năng, còn sư huynh ngươi đây là Tôn Ngộ Không.

– Bạch sư phụ, lâu nay đệ tử chịu phép Quan Âm, cử ăn ngũ huân và tam yểm (thịt trâu, thịt bò, thịt chim nhạn). Nay gặp thầy rồi thì cho con ăn mặn trở lại.

– Không nên, lẽ nào gặp thầy rồi lại đổi chay ra mặn, ngươi đã cử được Ngũ huân và Tam yểm, tức là 8 món, cứ giữ như vậy, và theo đó ta đặt hiệu cho ngươi là Trư Bát Giới.

– Xin đa tạ sư phụ.

Xong đâu đó, Tam Tạng cùng 2 đồ đệ là Tôn Hành Giả và Trư Bát Giới từ giã Cao Lão, lên đường.


7. Tam Tạng thâu Sa Tăng

Ba thầy trò Tam Tạng, sau khi thoát nạn tại núi Huỳnh Phong, thẳng đường đi Tây phương. Ngày kia đi đến gặp một con sông rất rộng chắn ngang, thấy trên bờ có tấm bảng đá đề: Lưu Sa Hà, bên dưới có 4 câu thơ:

Lưu sa rộng tám trăm dặm,
Nước sông màu xanh thẳm,
Lông ngỗng rớt cũng chìm,
Bông lau rơi chẳng nổi.

Ba thầy trò còn đang xem bia, bỗng nghe tiếng sóng vỗ mạnh, nước vọt tung tóe, một con yêu nhảy lên khỏi mặt nước, hình thù dữ tợn, tóc đỏ rối chơm chởm, 2 mắt tròn vo, da mặt xanh, giọng nói như sấm, mình mặc áo lông vàng có sọc, cổ đeo một xâu đầu lâu, tay cầm gậy múa tít. Con yêu nhảy lên bờ định chụp Tam Tạng. Bát Giới đặt gánh hành lý xuống, xách đinh ba nhảy ra đánh con yêu, hồi lâu chưa phân thắng bại. Hành Giả ngứa tay, nhảy vào trợ chiến. Con yêu đánh không lại, nhảy ùm xuống nước trốn mất.

Hành Giả bảo Bát Giới:

– Chú xuống nước đánh con yêu, dụ nó lên bờ đặng anh bắt nó.

Bát Giới cổi giày và áo cà sa, xách đinh ba nhảy xuống sông đi tìm yêu quái. Yêu quái thấy Bát Giới rẽ nước đi xuống thì chận lại, nạt lớn:

– Hòa Thượng mặt heo đi tìm ai đó ?

– Ngươi là yêu tinh gì mà dám cản đường ta ?

– Ta không phải là yêu tinh, mà là Quyện Liêm Tướng Quân ở cõi Trời, làm bể bình lưu ly nên bị đày xuống ở sông Lưu Sa nầy, đón bắt người ăn thịt đỡ lòng, 9 cái sọ xỏ xâu đeo đây là dấu tích. Nay ta gặp mi bắt ăn tái không chờ nấu nướng.

Bát Giới quát:

– Ngươi có tài cán bao nhiêu mà đòi ăn thịt ta. Hãy đỡ.

Dứt lời Bát Giới liền đập con yêu một đinh ba, rồi trá bại dụ con yêu lên mặt nước. Con yêu rượt theo, nhưng đến gần mé sông thì dừng lại, không dám lên bờ, sợ mắc kế Hành Giả. Hành Giả thấy con yêu khôn ngoan, liền nghĩ cách dùng chiến thuật diều xớt gà bắt nó. Con yêu đang cãi cọ với Bát Giới, bỗng nghe có gió lạ, ngước lên thấy Hành Giả sa xuống, thất kinh, la lên một tiếng rồi lặn xuống nước mất dạng.

Hành Giả nói với Bát Gới:

– Con yêu nầy khôn quá, ta phải đi thỉnh Bồ Tát đến bắt nó thì mới đưa được sư phụ qua sông nầy. Sư đệ lo bảo hộ sư phụ để sư huynh đi thỉnh Bồ Tát.

Hành Giả đến núi Phổ Đà, bày tỏ các việc với Đức Bồ Tát Quan Âm. Bồ Tát nói:

– Bởi tánh ngươi hung hăng ưa đánh đập, không chịu nói chuyện thỉnh kinh, nên con yêu ấy mới hành hung. Nó là Quyện Liêm Tướng Quân bị đọa đó. Phải chi ngươi nói đi thỉnh kinh thì nó chịu phép rồi.

Dứt lời, Bồ Tát gọi Huệ Ngạn tới, đưa cho một trái bầu, dặn rằng:

– Ngươi đi với Ngộ Không đến Lưu Sa Hà, kêu Sa Ngộ Tịnh lên, dạy nó theo Tam Tạng đi Tây phương thỉnh kinh, rồi bảo nó lấy 9 cái đầu lâu kết lại, đặt trái bầu nầy vào giữa thì biến thành chiếc thuyền chở Đường tăng vượt qua sông.

Huệ Ngạn vâng lịnh Bồ Tát, cùng Ngộ Không đi ngay. Huệ Ngạn đến giữa sông Lưu Sa gọi: “Ngộ Tịnh mau lên đây, có thầy thỉnh kinh đến đã lâu rồi, mau ra nghinh tiếp.”

Con yêu đang trốn dưới đáy sông, chợt nghe gọi đúng tên mình, vội vàng trồi lên gặp Huệ Ngạn, nói:

– Người thỉnh kinh đâu ?

– Người đứng nơi bờ sông kia kìa.

Ngộ Tịnh nhìn vào bờ thấy Đường tăng đang đứng, vội nhảy vọt vô bờ, đến trước Đường Tam tạng quì xuống nói:

– Đệ tử có mắt như mù, thấy thầy mà không biết nên xúc phạm, xin thầy từ bi tha tội và cho con làm đệ tử theo thầy đi thỉnh kinh.

Tam Tạng đỡ Ngộ Năng dậy, hỏi:

– Ngươi có lòng qui y nhưng chịu kham khổ nổi chăng ?

– Bạch thầy, trước đây con chịu phép Quan Âm, ở đây chờ thầy, lòng con đã quyết, dầu kham khổ không sờn.

– Lòng ngươi biết ăn năn hối lỗi, ta thí phát cho.

Tam Tạng bảo Hành Giả đưa dao bén cho Tam Tạng thí phát Ngộ Tịnh, cạo bỏ lớp tóc đỏ trên đầu Ngộ Tịnh. Xong, Ngộ Tịnh lạy thầy, quay lại gọi Hành Giả là Đại ca, và gọi Bát Giới là Nhị ca.

Huệ Ngạn nói:

– Người tu một thầy như anh em một nhà, việc lễ nghi nên chế bớt. Ngộ Tịnh mau làm phép đưa thầy qua sông.

Sa Tăng tuân lời, cổi xâu sọ người đặt lên mặt nước, Huệ Ngạn đặt cái bầu vào giữa, tức thì biến thành một chiếc thuyền lớn, thỉnh Tam Tạng lên thuyền, bên hữu có Ngộ Tịnh, bên tả có Ngộ Năng, Hành Giả dắt ngựa đứng sau, thuyền đi qua sông mau như tên bắn, lát sau tới bờ bên kia. Tam Tạng bước lên bờ, 3 đệ tử gánh đồ dắt ngựa lên theo.

Huệ Ngạn thâu bầu, trở về Nam Hải, còn 9 chiếc sọ người bị gió thổi biến thành làn khói tan mất.

Tam Tạng quay mặt về phương Nam lạy tạ Bồ tát.

Bốn thầy trò tiếp tục lên đường.


8. Hồng Hài Nhi đốt Tề Thiên

Bốn thầy trò Tam Tạng từ giã vua Ô-Kê và Hoàng Hậu lên đường, ngày đi đêm nghỉ, lúc bấy giờ là giữa mùa Đông, gió thổi rất lạnh. Ngày kia đi đến một ngọn núi cao. Hành Giả thấy có hào quang trong hang đá chiếu ra sáng rực, biết là có yêu tinh đón đường, liền ôm Tam Tạng xuống ngựa, kêu Bát Giới và Sa Tăng đứng 2 bên giữ thầy, kẻo yêu quái rình bắt.

Thật vậy, nơi núi nầy có con yêu tên là Hồng Hài Nhi, xưng hiệu là Thánh Anh Đại Vương, ở Hỏa Vân Động, con trai của Ngưu Ma VươngBà La Sát. Khi Hồng Hài Nhi đứng trên mây thấy Tam tạng đi tới thì lẩm bẩm: “Ta nghe nói Kim Thiền Tử xuống thế đầu thai làm Đường tăng Tam Tạng, nếu ăn thịt nó chắc trường thọ, nhưng có mấy đứa đồ đệ theo bảo hộ chặt chẽ, ta phải tính kế mới được.” Nghĩ rồi, Hồng Hài Nhi xuống núi, giả làm đứa con nít 7 tuổi trần truồng, bị trói trên cây, khóc la cứu mạng. Tam Tạng thấy vậy động lòng thương, hỏi:

– Ngươi là con nhà ai ? Vì sao bị trói trên cây như vậy ?

Hồng Hài Nhi khóc lớn nói:

– Thầy ôi ! Nhà tôi ở bên kia núi, tại xóm lớn gần suối Khô Tòng. Bởi ông nội tôi là Hồng Bá Vạn qua đời, để lại sự nghiệp lớn cho cha mẹ tôi. Mẹ tôi lấy tiền cho vay bị quân gian lừa gạt lấy hết. Cha tôi tức giận, không cho vay nữa. Quân gian xúm nhau đến bắt giết cha tôi, bắt mẹ tôi làm Áp trại phu nhân, lấy sạch của cải, chúng bắt tôi trói bỏ nơi nầy cho chết khô, may gặp thầy, xin thầy cứu vớt.

Tam Tạng động lòng, bảo Bát Giới leo lên cây mở trói đem đứa bé xuống. Hành Giả cản lại nói:

– Yêu quái ! Ngươi trá hình gạt ta sao đặng. Đừng nói lôi thôi, ta đập cho một thiết bảng tan xác bây giờ.

Hồng Hài Nhi giả đò khóc lóc năn nỉ Tam Tạng:

– Tuy tôi bị nạn, nhưng ruộng đất của tôi còn nhiều lắm. Xin thầy cứu tôi, tôi sẽ bán hết ruộng đất đền ơn thầy.

Bát Giới nói:

– Đại ca hỏi làm chi đứa con nít, để tôi cứu nó cho rồi.

Vừa nói, Bát Giới leo lên cắt dây trói đem đứa bé ấy xuống. Hồng Hài Nhi khóc lóc van lạy Tam Tạng. Tam Tạng động lòng thương, bảo đứa bé lên ngồi trên ngựa. Hồng Hài Nhi khóc và thưa:

– Thầy ôi, tôi bị trói mấy bữa nay tay chân tê cứng, không cỡi ngựa được.

Tam Tạng kêu Hành Giả cõng đứa bé. Hành Giả kê lưng cỏng, thấy nó nặng không đầy 4 cân, bèn cười nói:

– Ngươi là yêu quái tới số rồi mới giỡn mặt ta.

Hồng Hài Nhi đáp:

– Tôi là người lương thiện, sao ông gọi tôi là yêu quái ?

Tôn Hành Giả định lừa thế vật chết con yêu. Nó biết ý nên ra tay trước, nó hớp gió 4 lần rồi thổi trên lưng Hành Giả, khiến Hành Giả bị gió đè nặng ngàn cân. Hành Giả cười nói:

– Yêu quái ơi ! Có tài phép gì cử giở hết ra cho ta xem.

Hồng Hài Nhi nghe Hành Giả nói vậy thì muốn nhảy, nhưng bị Hành Giả ôm chặt quá, rồi bị Hành Giả quật mạnh vào đá. Nó liền biến thành đạo hồng quang bay tuốt lên không, nổi gió lớn làm cát bay đá chạy. Bát Giới và Sa Tăng đều cúi đầu nhắm mắt, con yêu bay xuống bắt Tam Tạng đem về động. Hành Giả chạy đến ẵm thầy nhưng không kịp.

Khi giông gió vừa hết, mở mắt ra nhìn không thấy thầy đâu nữa thì biết là con yêu đã bắt thầy rồi. Sa Tăng ở giữ đồ đạc, còn Hành Giả và Bát Giới đi kiếm thầy khắp nơi không gặp. Hành Giả bắt ấn gọi Thổ Địa đến hỏi:

– Núi nầy có mấy con yêu ở đây ?

– Thưa Đại Thánh, núi nầy chỉ có một con yêu mà thôi, nó xưng là Hồng Hài Nhi ở Hỏa Vân Động, gần Khô Tòng Giản. Nó là con trai của Ngưu Ma Vương và Bà La Sát. Trước kia nó tu tại Hỏa Diệm Sơn hơn 300 năm, luyện được Tam Muội Chơn Hỏa. Ngưu Ma Vương sai nó trấn ở núi nầy. Nó có phép thần thông, bắt chúng tôi phục dịch nó như bọn gia đinh. Xin Đại Thánh trừ nó mà cứu kẻ hiền lành.

Hành Giả cho chư Thần lui, rồi nói với Sa Tăng và Bát Giới:

– Các em yên tâm. Ta biết con yêu nầy rồi, cha nó là bạn với ta. Chắc nó không dám hại thầy, hãy theo ta đi gặp nó.

Ba anh em liền gánh đồ và dắt ngựa đi tới, đến suối Khô Tòng, thấy một cây cầu bắt qua suối, bên cầu có cái động lớn. Hành Giả dặn Sa Tăng gánh đồ và dẫn ngựa vào rừng gìn giữ, còn Bát Giới cùng Hành Giả qua cầu, Hành Giả thấy trước động có bọn tiểu yêu đang tập múa kiếm, liền hét lớn:

– Các ngươi mau vào báo với Chúa động, hãy thả thầy ta ra, nếu không ta phá động giết chết không chừa một mạng.

Hồng Hài Nhi cầm giáo, ở trần, đi chân không, gương mặt trắng trẻo, nhảy lên xe, bảo tiểu yêu đẩy xe ra cửa động.

Hành Giả nói:

– Xưa kia ta và cha cháu là Ngưu Ma Vương kết bạn với nhau. Cháu mau đem Đường tăng trả lại cho chú kẻo tình nghĩa chú cháu chẳng còn. Cha cháu hay được thì quở đấy.

Hồng Hài Nhi nổi giận nói:

– Nào ta có bà con gì con khỉ kia mà nói chú với cháu ?

– Quân vô lễ không biết điều phải quấy, ta quyết bắt ngươi trị tội.

Hai người hỗn chiến. Con yêu đánh không lại Hành Giả, lại bị Bát Giới ở ngoài thừa cơ đập một đinh ba. Hồng Hài Nhi thất kinh, bỏ chạy về cửa động, nhảy đứng trên xe, đưa tay đấm lỗ mũi, hai lằn khói đen và lửa từ trong mũi phụt ra rần rần, Bát Giới hoảng sợ, chạy dài. Hành Giả niệm chú Tỵ hỏa, bắt ấn len vào lửa kiếm con yêu. Hồng Hài Nhi thấy Hành Giả không sợ lửa, liền phun vào mắt Hành Giả hai lằn khói làm Hành Giả lòa con mắt nên phải vọt ra ngoài.

Hồng Hài Nhi thấy Hành Giả bỏ chạy thì thích chí, thâu lửa, truyền tiểu yêu đẩy xe trở vào động.

Hành Giả nhờ Tứ vị Long Vương phun nước trừ lửa, nhưng đây không phải là lửa thường, nên không trừ được. Túng thế, Hành Giả tính đi thỉnh Quan Âm trừ nó cứu thầy. Bát Giới xin đi Nam Hải thay sư huynh.

Còn Hồng Hài Nhi phun khói đốt Hành Giả thua chạy thì mừng rỡ vào động, ngẫm nghĩ rồi nói với bọn tiểu yêu:

– Hành Giả bị trận nầy khiếp vía chạy dài. Tuy nó ngất ngư nhưng không chết, chắc nó còn viện binh báo thù. Các ngươi mở cửa động để ta ra ngoài xem thử nó đi cầu viện ai.

Hồng Hài Nhi ra ngoài, bay thẳng lên mây nhìn khắp 4 phía, thấy Bát Giới bay về hướng Nam thì nghĩ chắc là đi Nam Hải cầu viện Quan Âm Bồ Tát. Hồng Hài Nhi bay xuống trở về động bảo tiểu yêu:

– Chúng bây mau lấy túi da Như Ý đặng ta đi bắt Bát Giới đem về hầm rục đãi chúng bây một bữa.

Hồng Hài Nhi bay lên mây, đi rất mau, đón đầu Bát Giới, hoá ra là Bồ Tát Quan Âm. Bát Giới nhìn tưởng là Bồ Tát thiệt, liền mừng rỡ đến làm lễ và thưa rằng:

– Đệ tử là Trư Ngộ Năng xin ra mắt Bồ Tát. Bạch Bồ Tát, thầy của đệ tử bị con yêu Hồng Hài Nhi ở Hỏa Vân Động, suối Khô Tòng bắt mất. Đệ tử và Sư huynh đến cứu thầy, bị lửa trong mũi con yêu Hồng Hài Nhi phóng ra đốt phải thua chạy, do đó sư huynh bị bệnh, sai đệ tử đi thỉnh cầu Bồ Tát từ bi xuống cứu.

Bồ Tát Quan Âm giả nói:

– Chúa động Hỏa Vân không sát hại sanh mạng. Chắc các ngươi ỷ đông xúc phạm đến nó nên mới sanh sự. Thôi ngươi theo ta đến động Hỏa Vân, ta nói giùm cho, ngươi chịu lỗi với nó rồi xin trả thầy thì xong.

Bát Giới tin lời, liền đi theo Bồ Tát giả, đến động Hỏa Vân, đi ngay vào động, liền bị tiểu yêu xông ra bắt Bát Giới trói lại, bỏ vào túi da Như Ý, cột miệng lại treo trên trính nhà.

Hồng Hài Nhi hiện lại nguyên hình, nói:

– Trư Bát Giới, ngươi dám cả gan đi thỉnh Quan Âm bắt ta. Nay ta bắt được ngươi cho bọn nhỏ hầm nhậu một bữa.

Bát Giới bị lừa, tức quá, nằm trong túi da chửi rủa hoài.

Nói về Tôn Hành Giả đang ngồi nói chuyện với Sa Tăng, chờ Bát Giới thỉnh Bồ Tát đến, chợt có một ngọn gió tanh thổi qua rất lạ, Hành Giả liền đánh quẻ tay, kinh hãi nói:

– Không xong ! Bát Giới bị con yêu giả làm Bồ Tát, lừa dối bắt rồi. Sư đệ ngồi đây để ta đi thám thính xem sao.

Hành Giả biến hóa thành con lằn xanh, chui qua khe cửa vào động, chợt nghe tiếng khóc than của Bát Giới, lằn xanh liền bay đến đậu trên miệng túi Như Ý, định tìm cách cứu Bát Giới, bỗng nghe Hồng Hài Nhi nói:

– Sáu đứa kiện tướng qua mời Lão Đại Vương sang đây ăn thịt Đường tăng cho trường thọ.

Sáu đứa lãnh lịnh ra đi. Hành Giả nghĩ ra kế hay, liền bỏ Bát Giới nằm đó, bay ra khỏi động, theo 6 tướng yêu tinh, bay khỏi chúng chừng 3 dặm, liền niệm chú hóa thành Ngưu Ma Vương, rồi nhổ vài sợi lông hóa thành mấy tiểu yêu tùy tùng, giả đi săn bắn. Lục Kiện Tướng đi vừa tới, thấy Ngưu Ma Vương mừng rỡ đến quì trước mặt thưa rằng:

– Chúng tôi vâng lịnh Thánh Anh Đại Vương đi thỉnh Lão Đại Vương qua ăn thịt Đường tăng cho trường thọ.

Ngưu Ma Vương giả nói:

– Các ngươi để ta về nhà thay xiêm áo rồi qua phó yến.

Lục Kiện Tướng đồng thưa:

– Xin mời Lão Gia đi luôn cho tiện, kẻo Đại Vương tôi nhọc lòng trông đợi.

– Chúng bây sốt sắng quá ! Thôi ta cùng đi luôn.

Ngưu Ma Vương giả vào động, hỏi Hồng Hài Nhi:

– Con mời cha đến đây có điều chi cần gấp vậy ?

– Hôm trước, con bắt sống được Đường tăng đang trên đường đi thỉnh kinh. Người nầy đã tu hành 10 kiếp, không vợ con chi cả, nếu ăn một miếng thịt Đường tăng sẽ sống lâu muôn tuổi, nên con mời phụ vương sang đây cùng ăn.

Hỏi qua đáp lại một lúc, Hồng Hài Nhi thấy lạ nên biết ông nầy không phải là Ngưu Ma Vương thiệt, bèn hét lớn một tiếng, vây chặt Ngưu Ma Vương giả. Hành Giả thấy lộ việc nên hiện nguyên hình cười ngất, lấy thiết bảng vẹt bọn tiểu yêu, thoát ra cửa động, bay về thuật chuyện cho Sa Tăng nghe, rồi lập tức bay đi Nam Hải cầu Bồ Tát. Bồ Tát nói:

– Sao ngươi không thỉnh ta sớm để ta trừ lửa Tam Muội.

– Bạch Bồ Tát, đệ tử bị lửa Tam Muội đốt ngất ngư đi không được, phải sai Bát Giới đi cầu Bồ Tát. Hồng Hài Nhi biết được, giả hình Bồ Tát gạt bắt Bát Giới bỏ vào bao treo trên trính nhà, định hầm Bát Giới đãi bọn tiểu yêu.

Bồ Tát liền lấy Tịnh bình ném xuống biển để thâu nước vào đó, lại sai Huệ Ngạn lên mượn Lý Tịnh 36 ngọn đao Thiên can đem về. Bồ Tát cầm 36 ngọn đao ném lên không biến thành một tòa sen. Bồ Tát lên ngự tòa sen, có chim anh võ bay trước, Huệ Ngạn theo hầu, cùng Hành Giả bay đến núi Hiệu Sơn. Bồ Tát bảo Hành Giả xòe bàn tay tả ra, rồi lấy cành dương liễu viết một chữ MÊ, dạy Hành Giả đi đánh với Hồng Hài Nhi và trá bại dụ nó đến đây.

Hành Giả bay xuống Khô Tòng giản, kêu Hồng Hài Nhi ra đánh, vừa đánh vừa chọc tức, giả đò thua chạy, Hồng Hài Nhi không thèm rượt theo sợ mắc kế, Hành Giả xòe tay trái ra chiếu ngay mặt Hồng Hài Nhi, nó mê man đuổi theo Hành Giả đến chỗ Bồ Tát đứng chờ. Hồng Hài Nhi quát:

– Tôn Hành Giả thỉnh Bà tới đây trợ chiến chăng ?

Bồ Tát làm thinh không đáp. Hồng Hài Nhi hỏi lần nữa Bồ Tát cũng làm thinh, nó liền nổi giận trở giáo đâm Bồ Tát. Bồ Tát hiện hào quang bỏ tòa sen bay lên không, Hành Giả và Huệ Ngạn cũng bay theo. Hồng Hài Nhi cười ngất nói:

– Tôn Hành Giả thật bất tài, chịu không nổi lửa đốt, rước Long Vương làm mưa không tắt lửa, nay lại thỉnh Bồ Tát, không chịu nổi một giáo, bỏ tòa sen tẩu thoát. Thôi để ta lên ngồi tòa sen thử chơi cho biết.

Nói rồi, Hồng Hài Nhi vào ngồi tòa sen, xếp bằng chấp tay chế nhạo Bồ Tát. Khi ấy Đức Quan Âm ở trên mây, cầm nhành dương liễu chỉ xuống khiến tòa sen biến mất, hiện ra 36 ngọn đao Thiên can ghim chặt Hồng Hài Nhi vào giữa. Bồ Tát truyền Huệ Ngạn cầm cây Bàng yêu đè đầu Hồng Hài Nhi đánh xuống, máu chảy ướt dầm. Hồng Hài Nhi rất đau đớn, liều mình nhổ đao không sợ đứt tay. Bồ Tát phất cành dương liễu, miệng niệm chú, 36 ngọn đao dính cứng như hàm răng. Hồng hài Nhi nhổ không được, thất kinh năn nỉ:

– Xin Bồ Tát tha mạng, tôi nguyện cải dữ theo lành, qui y Phật pháp.

Bồ Tát hiện xuống nói:

– Ngươi chịu tu theo phép của ta chăng ?

– Nếu Bồ tát dung cho toàn tánh mạng, tôi xin qui y.

– Ngươi nguyện như vậy, ta thí phát cho.

Nói xong, Bồ Tát lấy dao cạo tóc Hồng Hài Nhi, chừa lại 3 vá, rồi nói:

– Nay ngươi đã qui y theo Phật, ta đặt tên cho ngươi là Thiện Tài Đồng Tử. Ngươi có bằng lòng không ?

– Tôi xin vâng lời Bồ Tát.

Bồ Tát liền chỉ 36 ngọn đao bảo lui, tức thì 36 ngọn đao dang ra hết, rồi dạy Huệ Ngạn đem đao trả lại cho Lý Tịnh.

Hồng Hài Nhi thấy thân mình lành lặn như trước, thú tánh trở lại, liền lấy giáo đâm Bồ Tát. Hành Giả lật đật đưa thiết bảng ra đỡ, Bồ Tát nói:

– Hành Giả đừng đánh, để ta trị nó.

Bồ Tát nói rồi liền lấy trong áo 5 vòng kim cô ném vào Hồng Hài Nhi, nói lớn: Hãy tròng vào thân mình nó.

Vừa dứt lời, một cái kim cô tròng vào đầu, 4 cái kia tròng vào 2 tay 2 chân của Hồng Hài Nhi. Bồ Tát niệm chú, các vòng kim cô siết lại làm Hồng Hài Nhi đau đớn vô cùng, quăng giáo nằm lăn lộn dưới đất.

Bây giờ Hồng Hài Nhi mới chịu phục Bồ Tát kêu la tha mạng. Bồ Tát thôi niệm chú, Hồng Hài Nhi hết đau, ngồi dậy bái lạy Bồ Tát.

Bồ Tát bảo Hành Giả:

– Tuy Thiện Tài đã chịu phục. Song tánh còn man rợ, ta phải bắt nó nhất bộ nhất bái cho đến Phổ Đà Sơn. Còn ngươi mau đi cứu thầy và Bát Giới.

Hành Giả từ tạ Bồ Tát, liền bay xuống rừng tòng, báo tin cho Ngộ Tịnh rõ, đoạn 2 người cùng đi đến động Hỏa Vân, đánh dẹp bọn tiểu yêu, mở túi thả Bát Giới ra, rồi đi kiếm thầy, mở trói cho thầy, mặc quần áo vào cho thầy, kể hết mọi sự cho thầy và Bát Giới nghe.

Tam Tạng cảm động, quì hướng về phương Nam lạy tạ Bồ Tát.

Thoát được nạn Hồng Hài Nhi, 4 thầy trò mừng rỡ, cùng nhau ăn uống nghỉ ngơi, rồi sáng sớm hôm sau tiếp tục lên đường nhắm Tây phương trực chỉ.


9. Kim Ngư Tinh bắt Tam Tạng

Bốn thầy trò Tam Tạng từ giã vua Xa Trì, tiếp tục lên đường đi thỉnh kinh. Ngày nọ đi đến nơi có một con sông lớn chắn ngang, nước sông mênh mông, không thấy đâu là bờ bến. Bên bờ sông có một tấm bia đề chữ: Thông Thiên Hà, Kinh quá bát bá lý, Kim cô thiểu nhân hành.”

Tam Tạng thấy bia đề chữ như thế thì buồn bã. Xảy Bát Giới lắng tai nghe rồi nói:

– Hình như có tiếng chuông mõ đâu đây. Hẳn vùng nầy có nhà ai, hay đám cúng tế chi. Chúng ta đến đó kiếm ăn ba miếng cho vững bụng.

Tam Tạng giục ngựa rẽ qua bãi cát, đi một đổi thấy xa xa có xóm dân cư. Đến nơi thấy trong nhà còn đèn nhang thắp sáng, bên ngoài treo một lá phướn, trước cửa có một ông già đang lần chuỗi hột. Tam Tạng chấp tay thủ lễ. Ông già nói:

– Thầy đến trễ quá ! Nếu đến sớm một chút thì được hưởng phần trai tăng.

Tam tạng đáp:

– Chúng tôi không phải đi trai tăng. Chúng tôi ở nước Đại Đường đi Tây phương thỉnh kinh, đến đây gặp một con sông lớn chắn ngang nên tìm nhà nghỉ đỡ để mướn thuyền qua sông. Xin gia chủ cho biết đây là xóm gì, có việc gì mà phải làm chay siêu độ như vậy ?

Ông già đáp:

– Tôi họ Trần ở đây lâu đời, xóm nầy là Trần Gia trang. Về việc làm chay siêu độ, câu chuyện rất dong dài, xin mời thầy vào nhà rồi tôi sẽ thuật cho thầy nghe.

Gia chủ hối gia nhân dọn cơm nước đãi khách. Cơm nước xong xuôi, gia chủ nói:

– Xóm tôi đây thờ một vị Thần là Linh Cảm Đại Vương, oai linh hiển hách, thường năm làm mưa thuận gió hòa, ủng hộ dân chúng, nhưng buộc dân chúng mỗi năm phải cúng cho Thần một đồng nam và một đồng nữ. Nếu không cúng như vậy thì Thần sẽ gây ra bão lụt chết chóc.

Tôn Hành Giả vọt miệng nói:

– Thần gì mà ăn thịt người, chắc nó là yêu quái đó.

Ông Lão nói tiếp:

– Chính vì lẽ đó mà mỗi năm đến phiên gia đình nào thì gia đình đó phải dùng đồng nam và đồng nữ cùng heo dê đem cúng tế cho Thần.

Tôn Hành Giả hỏi:

– Gia chủ có mấy con trai và con gái ?

– Tôi là Trần Thanh, vốn có một đứa con trai mới lên 3 tuổi tên là Trần quang Bảo, cha già con muộn, những tưởng rán nuôi con để nối dòng, nào dè Thần linh kỳ nầy chọn nó. Còn em tôi đây là Trần Trừng có một gái tên là Nhứt Xứng Kim, kỳ nầy cũng chung số phận với tôi.

Tôn Hành Giả nói:

– Vừa rồi gia chủ cầu siêu cho 2 đồng nam đồng nữ đó?

– Bởi thương con nên làm siêu độ trước.

– Gia chủ giàu có thế nầy, sao không bỏ tiền ra mua đồng nam đồng nữ dâng cho Thần mà phải chịu hy sinh con ?

– Bởi thầy chưa rõ, chớ chúng tôi đâu phải không dám lấy của che thân, ngặt vì vị Linh Cảm Đại Vương nầy thường đến xóm tôi, Ngài đã lựa ai rồi thì không thể dối trá với Ngài được. Ngài biết rõ hình dạng và ngày sanh của 2 đứa bé nầy.

– Phiền gia chủ đem lệnh lang cho tôi xem.

Trần Thanh đem bé Trần quang Bảo ra. Đứa bé rất ngây thơ, mặt mày tươi tắn, không biết Thần sắp ăn thịt nó. Tôn Hành Giả liền niệm chú biến thành đứa bé giống hệt Trần quang Bảo. Mọi người ngạc nhiên kinh hãi. Trần Thanh nói:

– Xin Thánh tăng hiện nguyên hình trở lại, đừng biến hình con tôi sợ mất phước.

Tôn Hành Giả vuốt mặt hiện nguyên hình trở lại nói:

– Có giống lệnh lang không ? Hình ấy đem tặng Linh Cảm được không ?

– Nếu có một đứa bé giống hệt con tôi, thế cho con tôi thì tốn bao nhiêu tiền tôi cũng chịu mua để cứu mạng con tôi.

– Vậy tôi xin thế cho Trần quang Bảo để các vị đem đi tế Thần, để lệnh lang sống nối nghiệp họ Trần.

Trần Trừng bỗng khóc òa rồi quì lạy thưa rằng:

– Thánh tăng cứu được mạng cho Trần quang Bảo thì xin cứu thêm con gái tôi là Nhứt Xứng Kim.

Hành Giả nói:

– Ông hãy đưa lệnh ái đến đây xem thử.

Trần Trừng mừng rỡ chạy về nhà bồng bé Nhứt Xứng Kim tới. Hành Giả nói với Bát Giới:

– Hãy biến hình ra đứa bé nầy.

Bát Giới dẩy nẩy nói tôi to lớn thế này mà biến ra đứa con nít sao đặng. Hành Giả hăm đánh đòn, Bát Giới hoảng sợ liền biến ra mặt mày giống hệt Nhứt Xứng Kim, nhưng mình mẩy mập gấp 2 lần. Hành Giả nói:

– Hãy biến cho nhỏ thêm chút nữa, ta giúp cho.

Hành Giả thổi vào người Bát Giới một hơi, tay chân Bát Giới thu nhỏ lại, bây giờ mới giống hệt Xứng Kim. Mọi người ngạc nhiên khen ngợi, quả là phép lạ. Hành Giả nói:

– Hai ông hãy đem lệnh lang và lệnh ái cất giấu chỗ khác, để hung thần biết được thì lộ chuyện. Hai ông sẽ khiêng 2 hình giả nầy do tôi và em tôi biến ra, đi tế Thần, đến đấy chúng tôi sẽ bắt yêu quái, không cho nó hại người nữa.

Lúc đó tiếng thanh la trước cửa, đèn đuốc sáng lòa, có tiếng gọi: Hãy khiêng đồng nam đồng nữ ra đây đi tế Thần.

Trần Thanh và Trần Trừng giả cất tiếng khóc vang, khiêng 2 đồng nam đồng nữ đi ra. Người trong xóm đem thêm heo dê phụ vào lễ tế Thần.

Bọn họ đồng khiêng đến miếu Linh Cảm Đại Vương, rót rượu dâng hương, van vái. Xong họ đốt giấy tiền rồi lui hết.

Tôn Hành Giả biến thành Trần quang Bảo, còn Trư Bát Giới biến thành Nhứt Xứng Kim, hai người ngồi trên mâm chờ đợi. Bỗng một luồng gió ào đến. Bát Giới thở dài nói:

– Không xong rồi ! Có lẽ nó đến theo trận gió nầy. Sư huynh liệu sao kẻo nó ăn thịt tôi chết mất.

– Ngươi cứ làm thinh để ta đối phó.

Linh Cảm Đại Vương đi vào miếu, nhìn 2 đồng nam đồng nữ tỏ ý hài lòng, rồi đưa tay chụp lấy đồng nữ. Bát Giới hoảng kinh, nhảy xuống hiện lại nguyên hình, cầm đinh ba đánh yêu quái. Linh Cảm Đại Vương bị bất ngờ tránh không kịp, bị đinh ba đập trúng vai, rớt ra 2 vảy cá lớn màu vàng. Con yêu cả kinh, bay bổng lên mây. Hành Giả cũng hiện lại nguyên hình đuổi theo. Linh Cảm Đại Vương quay lại hỏi:

– Các ngươi là Hòa Thượng ở đâu ? Sao dám gạt ta ?

Tôn Hành Giả đáp:

– Chúng ta là đệ tử của Đường tăng đi Tây phương thỉnh kinh. Đêm vừa rồi ngụ ở Trần Gia trang, nghe nói có yêu quái đòi ăn thịt con nít. Chúng ta động lòng từ bi, quyết đi trừ yêu quái để cứu dân lành.

Linh Cảm Đại Vương đi không mang theo khí giới nên không dám cự địch, nhảy xuống sông Thông Thiên trốn mất.

Tôn Hành Giả nói:

– Chắc nó là quái vật trốn ở sông nầy nên bị tróc 2 vảy cá. Đợi sáng mai làm phép bắt nó rồi đưa sư phụ qua sông.

Tôn Hành Giả trở lại miếu, khiêng heo dê trở về Trần Gia rồi thuật cho mọi người nghe chuyện đánh yêu quái. Mọi người mừng rỡ lo dọn phòng cho 4 thầy trò an nghỉ.

Nói về Linh Cảm Đại Vương bị Bát Giới đánh một đinh ba tróc 2 cái vảy đau đớn vô cùng, trở về thủy phủ ngồi làm thinh, mặt mày ủ rủ. Các bộ hạ vào hỏi thăm. Linh Cảm nói:

– Mỗi năm ta đi hưởng lễ nầy xong, ta đem vật tế dư về phân phát cho chúng bây, nhưng năm nay ta không được hưởng mà suýt bỏ mạng. Hai đứa học trò của Đường tăng biến hóa giả làm đồng nam đồng nữ gạt ta, đợi ta vào miếu thì vùng dậy đánh ta. Nếu không lanh chân chạy về thì mạng ta ắt khó toàn. Bấy lâu, ta nghe Đường tăng tu hành đã 10 kiếp, ăn được một miếng thịt của nó sẽ sống được cả ngàn năm. Nay làm thế nào bắt được hắn ?

Trong bọn thủy tộc có Khuyết Bà mặc áo rằn nói:

– Đại Vương muốn bắt Tam Tạng chẳng khó gì nếu Đại Vương biết làm phép cho tuyết đóng trên mặt sông.

Linh Cảm Đại Vương nói:

– Ta có tài làm mưa gió mà cũng có tài làm băng tuyết cứng như đá nữa.

Khuyết Bà nói:

– Thế thì dễ rồi. Đêm nay nhân lúc trời lạnh, Đại Vương làm tuyết sa xuống cho nước sông đặc lại. Chúng tôi hóa làm khách bộ hành, giả đi qua đi lại trên mặt sông, lớp che dù lớp cỡi ngựa. Thầy trò Đường tăng nóng lòng đi thỉnh kinh, tất bắt chước chúng tôi cỡi ngựa qua sông. Đại Vương chờ cho chúng đến được nửa sông thì làm phép cho tuyết tan một vùng, khiến thầy trò nó lọt hết xuống sông, mặc sức bắt.

Linh Cảm mừng rỡ khen là diệu kế.

Thầy trò Tam Tạng trúng kế, đều lọt xuống sông, Hành Giả lanh ý nhảy thoát. Linh Cảm chỉ cố ý bắt Tam Tạng, không bắt Bát Giới và Sa Tăng, 2 người nầy đã từng quen dưới nước nên không sợ chi cả, lội đi tìm Tam Tạng, nhưng không thấy, còn con Bạch mã vốn là rồng hóa thân, nên đi trong nước dễ dàng. Bát Giới và Sa Tăng tìm thầy không thấy, đồng dẫn ngựa lên bờ, báo cáo các việc với Hành Giả.

Ba anh em đồng dắt nhau trở lại Trần Gia trang thuật lại các việc. Hành Giả nói:

– Chắc là thầy bị yêu quái bắt rồi. Hai em rán đi xuống đó thám thính lần nữa thử coi.

Sa Tăng nói:

– Hai đứa tôi quen thủy tánh , song không biết yêu quái ở chỗ nào. Chúng tôi cõng sư huynh xuống đó, sư huynh biến hóa đi thám thính thì mới kết quả. Khi biết con yêu ở đâu, chúng tôi ra sức đánh nó.

Hành Giả đồng ý. Bát Giới cõng Hành Giả đi xuống nước, Sa Tăng theo sau. Đi được một đổi thấy phía trước có một lâu đài, đến gần thấy đề chữ: Thủy Nguyên chi để.

Hành Giả biến thành con tôm lội tới lâu đài, thấy Linh Cảm Đại Vương ngồi chính giữa, Khuyết Bà ngồi một bên, hai người bàn cách ăn thịt Đường tăng. Hành Giả lội qua chỗ khác dò hỏi Đường tăng bị giam ở đâu, một con tôm cái tiết lộ, Đường tăng bị giam trong cái hộp đá để ở sau cùng, đợi chừng nào đồ đệ của Đường tăng không tìm kiếm nữa thì bắt ra ăn thịt. Tôn Hành Giả đợi cho tôm cái đi khỏi, liền lần ra sau, chỗ Hậu cung, lén đến gần cái hộp đá, nghe thầy than thở. Hành Giả nói nhỏ: “Sư phụ, có đệ tử đến đây tìm cách cứu sư phụ. Rán chờ đệ tử diệt yêu quái xong mới cứu sư phụ ra được.”

Tôn Hành Giả trở ra, gặp Bát Giới và Sa Tăng nói:

– Quả là yêu quái hóa ra tuyết gạt chúng ta, bắt sư phụ. Chúng giam sư phụ trong hộp đá. Hai ngươi phải đi đánh nó để cứu thầy. Nếu đánh không lại thì dụ nó lên bờ để ta bắt nó.

Bát Giới và Sa Tăng đến trước cửa lâu đài la lớn:

– Yêu quái đâu ! Hãy thả thầy ta ra mau.

Tiểu yêu vào báo. Linh Cảm Đại Vương nai nịt rồi cầm trái chùy ra cửa nói:

– Các ngươi ở đâu mà dám đến đây lộng hành như thế ?

– Con thủy quái sao mà ngu ngốc thế ! Hôm trước ta đánh cho một đinh ba tróc 2 cái vảy không nhớ sao mà hỏi ?

Bát Giới đưa đinh ba đập liền. Linh Cảm đưa chùy ra đỡ. Sa Tăng thấy vậy nhào vô trợ chiến. Con yêu chẳng hề nao núng, một mình đánh với 2 người, chưa phân thắng bại. Bát Giới ra hiệu cho Sa Tăng, cùng bỏ chạy lên bờ. Linh Cảm nổi sóng đuổi theo, nhảy phóc lên bờ, bị Hành Giả đón đánh, con yêu cự địch không nổi, liền nhảy xuống sông lặn mất.

Sa Tăng nói với Hành Giả:

– Con quái ấy lên bờ đánh rất dở mà ở dưới nước nó đánh rất tài tình. Em và nhị ca rán hết hơi mà không thắng nó.

– Nếu để lâu e nó hại thầy. Hai em xuống kêu nó đánh hoài để nó không rảnh tay hại thầy, còn ta đi thỉnh Bồ Tát.

Nói xong, Hành Giả phóng vụt bay đi, lát sau tới núi Phổ Đà. Các Thần ra nghinh tiếp và nói:

– Bồ Tát dặn, chừng nào Đại Thánh đến thì chờ ở đây.

Hành Giả chờ hồi lâu, quá nóng ruột, vội chạy đại vào rừng trúc, chư Thần cản không nổi. Đến nơi thấy Bồ Tát đang vót nan đan một cái giỏ thì quì lạy Bồ Tát thưa rằng:

– Đệ tử là Tôn Ngộ Không theo thầy đi thỉnh kinh, đến sông Thông Thiên thì gặp Linh Cảm Đại Vương dùng phép hóa tuyết bắt thầy cầm trong động. Xin Bồ Tát cứu nạn.

– Ngươi ra ngoài chờ ta đan giỏ xong có việc dùng liền.

Hành Giả đành trở ra ngồi chờ Bồ Tát. Lát sau, Bồ Tát xách giỏ tre đi ra gọi Ngộ Không mau theo cứu Đường tăng.

Bát Giới và Sa Tăng thấy Bồ Tát tới liền đến vái lạy. Bồ Tát liền mở miệng giỏ tre niệm chú: ” Tử đích khứ, huợt đích trụ.” Bồ Tát niệm xong 7 lần như vậy thì Bồ Tát đưa giỏ lên, có một con cá vàng nhảy vào giỏ, đôi mắt cá sáng lòa.

Bồ Tát bảo Hành Giả:

– Hãy mau xuống thủy phủ cứu Đường tăng.

– Bồ Tát chưa bắt yêu thì làm sao đệ tử cứu được thầy.

– Con yêu ấy là con Kim Ngư nầy. Nó ở trong hồ sen của ta, thường ngày nổi lên nghe kinh đã lâu lắm, tu nhiều đời, nên nó có phép luyện búp sen thành trái chùy. Thừa lúc nước lớn, nó thoát ra khỏi hồ, lội xuống sông Thông Thiên làm yêu quái nơi đó. Hồi sáng nầy, ta để ý không thấy nó, liền đánh tay biết Đường tăng bị nó bắt, nên ta đan giỏ tre đem bắt nó.

Tôn Hành Giả vâng lịnh Bồ Tát xuống thủy phủ nạy hộp đá, đưa Đường tăng lên bờ. Thầy trò trở lại nhà Trần lão.

Tôn Hành Giả nói với Trần Lão:

– Yêu quái Linh Cảm Đại Vương đã bị Bồ Tát Nam Hải bắt nhốt vào ao sen rồi, từ nay xóm Trần Gia được yên ổn. Trần lão giúp cho một chiếc thuyền để đưa thầy tôi qua sông.

Bỗng có tiếng nói từ dưới nước vọng lên:

– Đại Thánh, đừng tính việc đi thuyền qua sông cho tốn công thiên hạ, để tôi đưa chư vị qua sông.

Tiếng nói vừa dứt thì có một con rùa thật to nổi lên lội vào bờ. Tôn Hành Giả nói:

– Ngươi là gì mà đòi đưa thầy trò ta qua sông lớn ?

– Nguyên Ông Bà tôi đều tu hành có công, sau lập dinh Thủy Nguyên để ở. Chẳng ngờ, cách đây 9 năm, nước dâng cao, con quái ấy đến chiếm Thủy Nguyên, đuổi gia quyến tôi đi. Nay nhờ Đại Thánh thỉnh Bồ Tát tới bắt con quái ấy, gia quyến tôi được trở về đoàn tụ như cũ. Tôi mang ơn Đại Thánh nên tình nguyện đưa thầy trò Đại Thánh qua sông.

Tôn Hành Giả bảo rùa Thần Thủy Nguyên bò lên bờ, rồi bốn thầy trò dắt ngựa và vác hành lý lên đứng trên lưng rùa, từ giã dân chúng. Thủy Nguyên lội xuống nước, vươn mình như bay qua sông. Tam Tạng lên bờ, chấp tay tạ ơn Thủy Nguyên. Thủy Nguyên nói:

– Tôi nghe Phật Tổ ở Tây phương biết việc quá khứ vị lai, tôi nhờ sư phụ hỏi Phật giùm, tôi đã tu được 1300 năm mà sao hóa hình người chưa được, mặc dầu nói được tiếng người.

Tam Tạng nhận lời, rồi từ giã Thủy Nguyên lên đường.



Viết bình luận...