Vua Hiên Viên tức là Hiên Viên Huỳnh Đế hay Hiên Viên Hoàng Đế, là vị Thánh Vương vào thời Thái cổ nước Tàu, sau vua Thần Nông, trước vua Nghiêu, niên lịch 2697 năm trước Tây lịch.
Vua Hiên Viên và Hoàng Hậu đều lo trau giồi tâm tánh và hằng giữ dạ tu nhơn tích đức.
Ngày kia, Đức Nguơn Thủy Thiên Tôn ngồi trong Cung Ngọc Hư, núi Côn Lôn, biết lòng thành mộ đạo của vua Hiên Viên và Hoàng Hậu, nên sai học trò là Quảng Thành Tử xuống trần khai tâm và dạy đạo cho vua và Hoàng Hậu. Quảng Thành Tử vâng lịnh, cỡi mây tới thành vua trong đêm trăng sáng, kêu hai vị ra trước lầu Vọng Nguyệt nói rằng :
– Lòng thành của 2 vị đã thấu đến Cung Ngọc Hư, nên ta vâng lịnh xuống đây hướng dẫn 2 vị tu hành. Hai vị hãy dọn mình cho trong sạch, sắm sẵn một cái đỉnh hình trái bầu gọi là đỉnh hồ, bằng đồng để trên lầu cao, khi cần hỏi ta điều gì thì đốt hương trầm trong đỉnh mà cầu nguyện, tức thì ta sẽ đến.
Nói xong Quảng Thành Tử làm phép Khai Quang cho vua Hiên Viên và Hoàng Hậu, rồi truyền phép tu luyện.
Vua và Hoàng Hậu sau khi thọ phép Khai Quang thì trở nên sáng suốt, lời dạy đạo bao nhiêu đều ghi nhớ rõ hết. Từ đó vua và Hoàng Hậu chuyên cần luyện tập, tu sửa tâm tánh. Khi thành thục rồi thì đốt hương trầm trong đỉnh hồ cầu thầy đến truyền đạo tiếp.
Lần lựa ngày tháng trôi qua, vua và Hoàng Hậu tu luyện đạt đến mức khá cao. Một hôm, thầy Quảng Thành Tử đến dạy rằng :
– Hai vị tu hành sắp đến ngày chứng quả. Kể từ ngày mai, hai vị hãy ra lịnh cho bá quan văn võ miễn lai trào trong 3 ngày và hai vị cố gắng giữ lòng cho trong sạch, trong vài hôm ta sẽ đến.
Vua Hiên Viên và Hoàng Hậu lãnh ý, ra lịnh bãi chầu trong 3 ngày, khiến các quan lấy làm lạ nhưng vẫn tuân chiếu chỉ mà không dám hỏi lý do.
Qua ngày thứ hai, các quan kéo đến thăm dò thì chiếu chỉ vẫn còn, tuy trong lòng băn khoăn vì không ai biết được điều chi hết, rồi cũng lần lượt kéo nhau ra về.
Đến ngày thứ ba, các quan đều sốt ruột, kéo đến Chánh môn, nhưng cửa vẫn đóng kín. Mọi người đang phân vân thì bỗng thấy một luồng gió cuốn trên không, mùi hương sực nức bay khắp cung điện, kế thấy từ trên lầu cao, vua Hiên Viên và Hoàng Hậu cỡi lên lưng một con rồng vàng (Huỳnh long) bay thẳng lên Trời, từ từ khuất vào đám mây.
Cả thảy bá quan đều biết vua Hiên Viên và Hoàng hậu đã tu đắc đạo, có Huỳnh long xuống rước lên Thượng giới.
Cho nên có câu :
“ Vân ám đỉnh hồ long khứ viễn.”
Nghĩa là : Mây che đỉnh hồ, rồng đi xa.
(Hồ là cái bầu rượu, Đỉnh hồ là cái đỉnh bằng đồng có hình dạng giống cái bầu rượu.)
Câu nầy dùng để chỉ vua Hiên Viên tu đắc đạo, được rồng xuống rước về cõi Tiên. Về sau, người ta dùng câu nầy để chỉ người mới chết, có ý mong mỏi linh hồn của người ấy được rồng rước về cõi Tiên.
Do đó, trong Tang Lễ của Đạo Cao Đài, bài thài hiến lễ hàng vong thường, Tuần sơ có 2 câu :
Vân ám đảnh hồ long khứ viễn,
Nguyệt minh hoa biểu hạc qui trì.
Nghĩa là : Mây che đỉnh hồ, rồng đi xa,
Trăng soi cột hoa, hạc về muộn.